Chương 1: Cơ sở khoa học để xây dựng quy trình kiểm toán nội bộ tại các tổ chức kinh tế; Chương 2: Thực trạng về hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ tại Tổng Công ty Điện lực TP.Hồ Chí Minh; Chương 3: Xây dựng quy trình kiểm toán nội bộ tại Tổng Công ty Điện lực TP.Hồ Chí Minh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ XÂY DỰNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ 1. Một số vấn đề chung về kiểm toán nội bộ Kiểm toán nội bộ là một trong ba loại hình kiểm toán cùng với loại hình kiểm toán độc lập và kiểm toán nhà nước. Thuật ngữ “nội bộ” hàm nghĩa rằng công việc kiểm toán có sự giới hạn về mặt không gian và do chính nhân viên của tổ chức tiến hành.
Nội dung của mục này phần nào sẽ làm rõ các vấn đề liên quan đến hoạt động kiểm toán nội bộ. Bản chất và định nghĩa kiểm toán nội bộ Khi đơn vị có quy mô hoạt động ngày càng lớn, số lượng nghiệp vụ ngày càng nhiều, mức độ phức tạp của các nghiệp vụ ngày càng cao thì nhà quản lý khó có thể một mình đảm nhiệm tất cả các công việc. Các công việc bao gồm: từ việc lập kế hoạch đó là việc thiết lập các mục tiêu và phát thảo các phương pháp sử dụng các nguồn lực (vốn, máy móc thiết bị, con người, công nghệ); đến việc tổ chức thực hiện như: thiết kế các chính sách, các thủ tục, kiểm soát để hoạt động; cuối cùng là việc chỉ đạo như: xét duyệt, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và đánh giá các hoạt động. Do đó, nhà quản lý sẽ phải lập ra một bộ phận chuyên thực hiện công việc kiểm tra và đánh giá sự tuân thủ các chính sách và thủ tục kiểm soát.
Bộ phận chuyên môn đó chính là bộ phận kiểm toán nội bộ. Từ phân tích trên cho thấy bản chất của kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập trong đơn vị có chức năng kiểm tra, đánh giá và đề xuất những cải tiến nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị. Định nghĩa kiểm toán nội bộ được Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA – Institute Of Internal Auditors) thông qua vào tháng 6 năm 1999 là định nghĩa được sử dụng phổ biến trong nhiều tài liệu cho tới hiện nay. Kiểm toán nội bộ được định nghĩa như sau: “Kiểm toán nội bộ là hoạt động đảm bảo và tư vấn mang tính độc lập, khách quan, nó được thiết lập nhằm tăng thêm giá trị và cải thiện cho các hoạt động của tổ chức.
Kiểm toán nội bộ giúp cho tổ chức hoàn thành mục tiêu thông TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 qua việc đưa ra một cách tiếp cận có hệ thống và kỹ cương nhằm đánh giá và cải thiện tính hữu hiệu trong việc quản lý rủi ro, kiểm soát và các quá trình quản trị. Lịch sử hình thành và sự phát triển của kiểm toán nội bộ 1. Lịch sử hình thành Kiểm toán nội bộ đã hình thành từ nhiều thế kỷ trước xuất phát từ yêu cầu quản lý. Tuy nhiên, mãi đến năm 1941 kiểm toán nội bộ mới thực sự được công nhận như một nghề nghiệp chính thức.
Năm 1941, Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) được thành lập ở NewYork bởi 25 kiểm toán viên nội bộ. Họ thống nhất thành lập một tổ chức nghề nghiệp để chia sẻ những mối quan tâm chung. Tại Việt Nam, kiểm toán nội bộ không phải là hoạt động hoàn toàn mới mẻ. Việc kiểm tra, thanh tra của cấp trên đối với cấp dưới trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước đã được tiến hành từ rất lâu.
Đến năm 1996 thuật ngữ “kiểm toán nội bộ” xuất hiện lần đầu tiên trong Nghị định 59/CP ngày 03/10/1996 ban hành quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước. Năm 1997, Bộ Tài chính ban hành quy chế kiểm toán nội bộ áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước ban hành kèm theo quyết định số 832TC/QĐ/CĐKT ngày 28/10/1997. Và năm 1998, Bộ Tài chính ban hành thông tư số 171/1998/TT-BTC ngày 22/12/1998 hướng dẫn thực hiện kiểm toán nội bộ tại doanh nghiệp Nhà nước. Sự phát triển của kiểm toán nội bộ Kiểm toán nội bộ hình thành và phát triển gắn liền với nhu cầu của người quản lý về vấn đề kiểm soát.
Sự phát triển của kiểm toán nội bộ gắn liền với sự thay đổi của luật pháp và sự phát triển của Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ. Từ khi mới ra đời đến giai đoạn những năm 1940 hoạt động kiểm toán nội bộ chủ yếu về công tác kiểm tra kế toán, kiểm tra việc ghi nhận và công bố thông tin trên báo cáo tài chính. Năm 1941 đánh dấu cho sự ra đời chính thức của nghề nghiệp kiểm toán nội bộ. Cũng vào thời điểm này nhiều công trình nghiên cứu đã xuất hiện.
Các tài liệu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 đầu tiên liên quan đến lý thuyết và thực hành kiểm toán nội bộ được xuất bản vào năm 1941. Năm 1943, tạp chí đầu tiên trong lĩnh vực kiểm toán nội bộ đã xuất hiện tại Hoa Kỳ. Năm 1947, IIA đã công bố bản quy định trách nhiệm đối với kiểm toán viên nội bộ. Bản quy định này yêu cầu kiểm toán nội bộ có trách nhiệm xem xét các vấn đề về tài chính và kế toán.
Năm 1957, bản quy định này được mở rộng sang vấn đề quản lý. Chẳng hạn: xem xét và kiểm tra tính đúng đắn, đầy đủ và đáng tin cậy của thông tin kế toán tài chính; xác định mức độ tuân thủ của các hoạt động so với các quy định đã ban hành; đánh giá hiệu quả trong việc sử dụng tài sản, xác định tính hợp lý về các dữ liệu kế toán và dữ liệu khác của doanh nghiệp; đánh giá tính hiệu quả của các bộ phận trong việc thực hành trách nhiệm được giao. Năm 1972, IIA bắt đầu tổ chức thi và cấp chứng chỉ kiểm toán viên nội bộ (Certified Internal Auditor – CIA). Người dự thi phải trải qua kỳ thi trong 2 ngày với 3 nội dung: - “Lý thuyết và thực hành kiểm toán nội bộ - Quản trị, các phương pháp định lượng và hệ thống thông tin.
- Kế toán, tài chính và kinh tế học. Để được cấp CIA, các ứng viên phải vượt qua kỳ thi và phải có kinh nghiệm ít nhất hai năm trong lĩnh vực kiểm toán nội bộ hoặc tương đương” (Vũ Hữu Đức và cộng sự, 1999, trang 6). Tại Hoa Kỳ, tầm quan trọng của kiểm toán nội bộ càng được nâng cao khi sự kiện vào năm 1972 Quốc hội Hoa kỳ thông qua đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài (Foreign Corrupt Practices Act – FCPA). “Các điều khoản của FCPA bao gồm: chống tham nhũng và thực hiện minh bạch thông tin, sổ sách, tài liệu.
Đối tượng điều chỉnh của FCPA bao gồm: công dân và doanh nghiệp Hoa Kỳ, cá nhân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 lưu trú có thẻ xanh, bất kỳ công ty nào hoạt động theo pháp luật Hoa Kỳ hoặc có địa chỉ kinh doanh chính nằm ở Hoa Kỳ” (Lê Đình Phương Uyên, 2006, trang 12). Ảnh hưởng của luật pháp đã phần nào thúc đẩy hoạt động kiểm toán nội bộ ở Hoa Kỳ phát triển thêm một bước. Báo cáo tại Hội thảo về kiểm toán nội bộ tại Hoa kỳ vào năm 1968 thì “thời gian hoạt động của bộ phận kiểm toán nội bộ phân phối cho các hoạt động kiểm toán như sau: cho hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính là 20%; cho kiểm toán các hoạt động và các lĩnh vực khác là 80%; năm 1974, thời gian thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán nội bộ chỉ còn 2%. Đến năm 1983, điều tra của IIA đối với các doanh nghiệp của Hoa Kỳ xác định kiểm toán nội bộ thực hiện kiểm toán hoạt động là 63%, với doanh nghiệp của Anh tỷ lệ này là 65%” (Phan Trung Kiên, 2008, trang 14).
Năm 1978, IIA ban hành chuẩn mực về thực hành nghề nghiệp của kiểm toán nội bộ (Standards for the Professional Practice of Internal Auditing – viết tắt SPPIA). Từ năm 1981, IIA bắt đầu xuất bản tạp chí chuyên ngành về chuẩn mực kiểm toán nội bộ. Để mở rộng và giải thích cho các chuẩn mực trên từ 1983 IIA đã ban hành các quy định về chuẩn mực kiểm toán nội bộ (Statements on Internal Auditing Standards – viết tắt SIAS). Năm 1988, IIA ban hành điều lệ về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán nội bộ (Code of Ethics).
Năm 1990, IIA tiếp tục công bố một quy định đầy đủ hơn về phạm vi của kiểm toán nội bộ. Kiểm toán nội bộ ngoài việc kiểm tra thông tin tài chính còn phải kiểm tra và đánh giá tính đầy đủ và hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc thực hiện mục tiêu và trong quan hệ với những chính sách đã xây dựng. Ngoài ra, kiểm toán nội bộ phải đưa ra những kiến nghị để cải tiến các nguồn lực, cải tiến các thủ tục, phát hiện những khiếm khuyết để kiến nghị các biện pháp khắc phục. Năm 1992, IIA ban hành hướng dẫn về hệ thống kiến thức chung cho thực hành kiểm toán nội bộ.
Có 334 kỹ năng trong 20 lĩnh vực liên quan đến việc hành nghề của kiểm toán viên nội bộ bao gồm: (1) khả năng suy luận, (2) giao tiếp, (3) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 kiểm toán, (4) đạo đức, (5) khả năng tổ chức, (6) kiến thức xã hội, (7) đánh giá gian lận, (8) sử dụng máy tính, (9) kế toán tài chính, (10) thu thập dữ liệu, (11) kế toán quản trị, (12) quản trị, (13) luật, (14) tài chính, (15) thuế, (16) phương pháp nghiên cứu định lượng, (17) tiếp thị, (18) thống kê, (19) kinh tế và (20) kinh doanh quốc tế. Năm 1998, đạo luật FCPA mở rộng áp dụng cả đối với công ty nước ngoài, cá nhân nước ngoài có hành vi tham nhũng khi kinh doanh ở Hoa kỳ. Đạo luật xem như là phản ứng của chính phủ về các sai phạm của các công ty đang ngày càng tăng. Đạo luật yêu cầu các tổ chức duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ đầy đủ, hoàn chỉnh và phản ánh chính xác các giai đoạn tài chính.
Từ yêu cầu của đạo luật này, vai trò của kiểm toán nội bộ ngày càng nâng cao. Kiểm toán nội bộ có thêm vai trò quan trọng trong việc kiểm tra và đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ. Ngày 30/07/2002 Quốc hội Hoa Kỳ ban hành luật Sarbanes-Oxley hay còn gọi là đạo luật SOX để phản ứng lại hàng loạt các vụ bê bối về tài chính của những công ty hàng đầu ở Mỹ.