Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp tại Việt Nam, đảm nhận chức năng cung cấp phần lớn thực phẩm thịt cho người tiêu dùng, cung cấp nguồn phân bón cho sản xuất trồng trọt, đồng thời giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Trước áp lực gia tăng nhu cầu tiêu thụ thịt nạc trong nước cùng sự cạnh tranh về chất lượng, giá thành con giống và thịt lợn hơi trên thị trường, phương thức chăn nuôi truyền thống dựa vào kinh nghiệm và phụ phẩm nông nghiệp đang dần chuyển đổi sang mô hình công nghiệp tập trung.

Huyện Ba Vì (Thành phố Hà Nội) là địa phương có ngành chăn nuôi phát triển với sự hình thành của nhiều trang trại quy mô lớn ứng dụng giống ngoại. Trong hệ thống chăn nuôi khép kín, phẩm chất của đàn nái sinh sản giữ vai trò then chốt, quyết định trực tiếp đến năng suất, số lượng và chất lượng con giống thương phẩm. Tuy nhiên, quá trình sản xuất thực tế vẫn gặp nhiều rào cản kỹ thuật, đặc biệt là tỷ lệ đẻ khó, các bệnh sinh sản sau đẻ ở nái và hội chứng tiêu chảy, nhiễm khuẩn ở lợn con theo mẹ. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận "Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội" được thực hiện bởi sinh viên Trần Thị Chinh dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thu Trang thuộc Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 5 nội dung:

  1. Đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại cơ sở thực tập.
  2. Thực hiện quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản và phòng trị bệnh cho đàn lợn con theo mẹ.
  3. Áp dụng các phương pháp, biện pháp kỹ thuật nhằm đẩy mạnh hiệu quả chăn nuôi nái sinh sản và lợn con.
  4. Đóng góp vào việc đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất.
  5. Rèn luyện tác phong làm việc khoa học, công nghiệp.

Yêu cầu cụ thể của đề tài bao gồm:

  1. Đáp ứng nhu cầu thực tiễn sản xuất, nâng cao năng suất đàn giống và góp phần phát triển kinh tế trang trại.
  2. Thực hiện nghiêm ngặt quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Thanh Lịch.
  3. Xác định chính xác tình hình mắc bệnh, đồng thời áp dụng và đánh giá hiệu quả của các phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái và lợn con.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản ở giai đoạn chờ đẻ, đẻ và nuôi con (gồm hai dòng giống Landrace 11 - viết tắt L11 và CP909); đàn lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến khi cai sữa (21 ngày tuổi).
  • Phạm vi không gian: Trang trại chăn nuôi lợn Nguyễn Thanh Lịch, tọa lạc tại vùng bán sơn địa thuộc xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội (giáp ranh các xã Tản Lĩnh, Thuần Mỹ và Cẩm Lĩnh).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành theo dõi và thực nghiệm trong 6 tháng, bắt đầu từ ngày 18/05/2017 đến ngày 18/11/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận tập trung vào sinh lý sinh sản, sinh lý tiết sữa của lợn nái, các giai đoạn khủng hoảng của lợn con và bệnh lý học thú y:

  • Cơ chế sinh lý tiết sữa: Bầu vú lợn nái không có bể chứa sữa cố định như gia súc nhai lại. Tiết sữa là một chuỗi phản xạ phức tạp có điều kiện và không điều kiện; kích thích cơ học từ động tác thúc vú của lợn con (kéo dài 5 - 7 phút) truyền qua vỏ não tới vùng dưới đồi (Hypothalamus), kích thích tuyến yên giải phóng hormone oxytocin vào máu tác động lên tế bào cơ biểu mô tuyến vú gây tiết sữa. Thời gian thải sữa mỗi cữ rất ngắn, chỉ kéo dài khoảng 25 - 30 giây với tần suất bú 20 - 25 lần/ngày ở lợn sơ sinh; lượng sữa tiết đạt đỉnh ở ngày thứ 21 rồi giảm dần.
  • Ba thời kỳ khủng hoảng của lợn con theo mẹ: Giai đoạn 1 tuần đầu sau sinh (thay đổi môi trường sống hoàn toàn, điều hòa thân nhiệt kém); giai đoạn 3 tuần tuổi (sữa mẹ bắt đầu giảm nhưng nhu cầu tăng trưởng tăng cao); giai đoạn cai sữa (chuyển đổi hoàn toàn sang thức ăn nhân tạo). Khi áp dụng mô hình công nghiệp cai sữa lúc 21 ngày tuổi, giai đoạn khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 gộp lại thành một.
  • Bệnh học sinh sản và truyền nhiễm: Cơ sở bệnh lý của hội chứng viêm tử cung - viêm vú - mất sữa (Metritis - Mastitis - Agalactia - MMA); bệnh sót nhau và bại liệt sau đẻ ở nái; các bệnh truyền nhiễm đường tiêu hóa và hô hấp ở lợn con như tiêu chảy do Escherichia coli, Salmonella, dịch tiêu chảy cấp (Porcine Epidemic Diarrhoea - PED do Coronavirus gây tổn thương teo nhung mao ruột), viêm phổi do Mycoplasma hyopneumoniae và viêm khớp do Streptococcus suis.

Phương pháp nghiên cứu và theo dõi thực tế:

  • Phương pháp theo dõi lâm sàng: Quan sát các triệu chứng sinh lý trước khi đẻ (sụt mông, cương vú, xuất hiện sữa đầu), triệu chứng đẻ khó để can thiệp kích tố (oxytocin) hoặc can thiệp cơ học bằng tay; phát hiện triệu chứng bệnh qua thân nhiệt, biểu hiện phân, dịch tiết âm hộ và niêm mạc.
  • Phương pháp xác định các chỉ tiêu năng suất:
    • Đếm toàn bộ số con sơ sinh/ổ, số con sống sau 24 giờ và số con sống sót đến 21 ngày tuổi (cai sữa).
    • Phương pháp cân khối lượng: Cân từng cá thể tại các thời điểm sơ sinh và cai sữa (21 ngày tuổi). Quy trình cân thực hiện cố định vào buổi sáng trước khi lợn ăn, sử dụng một loại cân đồng nhất và do một người thực hiện thao tác cân.
  • Công thức tính toán các chỉ tiêu kỹ thuật:
    • Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%) = (Số lợn còn sống đến cai sữa / Số lợn con sơ sinh) × 100.
    • Tỷ lệ nhiễm bệnh (%) = (Số lợn nhiễm bệnh / Số lợn theo dõi) × 100.
    • Khối lượng trung bình sơ sinh hoặc cai sữa (g) = Tổng khối lượng đàn / Tổng số lợn con tương ứng.
    • Tỷ lệ khỏi bệnh (%) = (Số lợn khỏi bệnh / Số lợn điều trị) × 100.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thu thập trong quá trình thực nghiệm được tính toán và xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi của tác giả Nguyễn Văn Thiện (2010), sử dụng phần mềm tin học văn phòng Microsoft Excel để phân tích các tham số trung bình và sai số.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc áp dụng chăn nuôi công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường thịt nạc, phân tích bối cảnh phát triển chăn nuôi tại Ba Vì và xác định vai trò của công tác chọn giống, quản lý nái sinh sản. Phần này định vị rõ mục tiêu, yêu cầu kỹ thuật và phạm vi triển khai của chuyên đề tốt nghiệp.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này chia làm ba nội dung lớn:

  • Tổng quan điều kiện cơ sở thực tập: Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch thành lập năm 2010 với diện tích 2 ha, tổng vốn đầu tư 18 tỷ đồng, hoạt động theo mô hình nuôi gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam. Quy mô tại thời điểm tháng 7/2017 gồm 1.237 nái sinh sản, 160 nái hậu bị, 18 đực khai thác. Chuồng trại gồm 6 dãy chuồng đẻ, 1 chuồng bầu và 4 - 5 chuồng cách ly. Trại sử dụng hệ thống làm mát bằng quạt hút và tấm làm mát duy trì nhiệt độ 28 - 30°C, lồng úm lợn con lắp bóng điện 100W (mùa hè) hoặc 200W (mùa đông). Cơ cấu nhân sự gồm 21 người (1 chủ trại, 1 quản lý, 2 kỹ sư, 2 tổ trưởng, 6 công nhân, 8 sinh viên thực tập và 1 cấp dưỡng).
  • Kết quả sản xuất của trang trại giai đoạn 2015 - 2017: Tác giả dẫn chứng số liệu lưu trữ từ cán bộ kỹ thuật trại cho thấy các chỉ tiêu sinh sản tăng trưởng đều qua 3 năm: tỷ lệ đậu thai tăng từ 86,63% (năm 2015) lên 87,58% (năm 2016) và đạt 89,64% (năm 2017); số lợn con cai sữa/nái/năm đạt lần lượt 23,01 con, 23,42 con và 25,04 con; tổng lợn con xuất bán tăng từ 25.795 con lên 27.795 con.
  • Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu: Phân tích sâu kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái mang thai, nái đẻ và nái nuôi con theo tài liệu của Trần Văn Phùng và cộng sự (2004). Quy định khẩu phần thức ăn: nái nuôi con ăn 2 kg + (số con × 0,35 kg/con)/ngày, năng lượng trao đổi 3.100 Kcal, protein thô 15%, Ca 0,9 - 1,0%, P 0,7%. Quy trình chăm sóc lợn con: cho bú sữa đầu trong 24 giờ đầu để hấp thu γ-globulin và ion Mg++, tiêm bổ sung sắt liều 200 mg (hoặc 100 mg nếu cai sữa lúc 21 ngày tuổi), tập ăn sớm từ ngày thứ 4 - 6 bằng thức ăn dạng mảnh như cốm. Tổng hợp các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về hội chứng MMA, viêm tử cung do liên cầu khuẩn, tụ cầu, E. coli và phác đồ can thiệp thụt rửa, dùng kháng sinh kết hợp oxytocin.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành

Xác lập chi tiết đối tượng khảo sát gồm nái đẻ L11 và CP909 cùng đàn con theo mẹ. Đưa ra 6 nội dung công việc thực tế sinh viên đảm nhiệm: tham gia chăm sóc nuôi dưỡng, theo dõi đẻ và các chỉ tiêu đàn con, thực hiện công tác phòng bệnh vắc xin, chẩn đoán bệnh lâm sàng, tiến hành điều trị bệnh và các công tác kỹ thuật phụ trợ (mài nanh, bấm số tai, cắt đuôi, thiến đực, mổ thoát vị bẹn - hecni). Quy định rõ công thức tính tỷ lệ sống, tỷ lệ bệnh, tỷ lệ khỏi và phương pháp xử lý dữ liệu sinh vật học.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ kết quả thực hành nghề nghiệp và số liệu thực nghiệm:

  • Công tác chăn nuôi và kỹ thuật can thiệp: Thực hiện đưa nái lên chuồng đẻ trước ngày dự kiến sinh 7 - 10 ngày; chuồng đẻ để trống tối thiểu 3 - 6 ngày sau khi sát trùng bằng Ominicide, Fam flus, Vikon S hoặc crezin 5%. Điều chỉnh dinh dưỡng: nái chờ đẻ ăn 3 kg/ngày, giảm xuống 1,5 kg/bữa trước đẻ 3 ngày; ngày đẻ cho nhịn hoặc uống nước ấm pha muối; sau đẻ 2 ngày tăng dần lượng ăn từ 0,5 - 1 kg/ngày. Can thiệp lợn con sơ sinh: vuốt sạch nhớt mũi miệng bằng vải xô, thắt cuống rốn cách gốc 4 - 5 cm, mài nanh, bấm số tai (mã trại 61 và số tuần sinh), cắt đuôi và tiêm sắt Fe-Dextran-B12 liều 2 ml/con vào ngày thứ 2 - 3; cho uống Amoxicillin phòng tiêu chảy (2 g/500 ml nước, liều 2 ml/con) liên tục 3 ngày; uống Toltrazuril 5% liều 1 ml/con vào ngày thứ 4 để phòng cầu trùng; thiến lợn đực lúc 4 - 5 ngày tuổi kết hợp tiêm 1 ml Amlistin; thực hiện phẫu thuật mổ hecni bẹn; tập ăn sớm cho lợn con từ 4 - 6 ngày tuổi bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 550 SF; cai sữa và chuyển xuất chuồng lúc 21 - 23 ngày tuổi.
  • Khả năng sinh sản của đàn lợn nái: Theo dõi trên 128 nái (64 nái dòng CP909 và 64 nái dòng L11). Tỷ lệ đẻ bình thường của CP909 đạt 73,44% (47 con), đẻ khó can thiệp kích tố là 21,88% (14 con), can thiệp bằng tay là 4,68% (3 con). Đối với dòng L11, đẻ bình thường đạt 70,31% (45 con), can thiệp kích tố chiếm 23,44% (15 con) và can thiệp bằng tay chiếm 6,25% (4 con). Tính chung trên 128 nái, tỷ lệ đẻ bình thường đạt 71,88%, can thiệp kích tố chiếm 22,66% và can thiệp bằng tay chiếm 5,46%.
  • Số lượng lợn con của các giống nái:
    • Dòng CP909: Số con đẻ ra/lứa đạt 11,63 ± 0,25 con; số con sống sau 24 giờ đạt 11,00 ± 0,24 con; số con sống đến cai sữa 21 ngày đạt 10,81 ± 0,22 con.
    • Dòng L11: Số con đẻ ra/lứa đạt 11,38 ± 0,21 con; số con sống sau 24 giờ đạt 10,81 ± 0,25 con; số con sống đến cai sữa 21 ngày đạt 10,39 ± 0,21 con. Sự hao hụt số lượng con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi chủ yếu do lợn mẹ đè, loại thải cá thể dị tật và chết do nhiễm trùng đường ruột.
  • Khối lượng lợn con: Theo dõi cân nặng trên 112 cá thể lợn con xuất phát từ 5 ổ đẻ dòng L11 và 5 ổ đẻ dòng CP909 để phục vụ so sánh chỉ tiêu tăng trọng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực tế qua quá trình theo dõi trực tiếp tại cơ sở:

Bảng 1: Kết quả sản xuất của trang trại Nguyễn Thanh Lịch giai đoạn 2015 - 2017

Chỉ tiêu theo dõi Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Nái hậu bị (con) 120 120 160
Nái sinh sản (con) - - 1.237
Tỷ lệ đậu thai (%) 86,63 87,58 89,64
Số lứa đẻ/nái/năm (lứa) 2,34 2,33 2,32
Lợn con chết và loại sau sinh (%) 8,37 6,90 6,94
Số lợn con cai sữa/nái/năm (con) 23,01 23,42 25,04
Tổng số lợn con xuất chuồng (con) 25.795 26.792 27.795

Bảng 2: Khả năng sinh sản của 128 nái theo dõi trong đợt thực tập

Dòng lợn nái Số theo dõi (con) Đẻ bình thường (con) Tỷ lệ (%) Can thiệp kích tố (con) Tỷ lệ (%) Can thiệp bằng tay (con) Tỷ lệ (%)
CP909 64 47 73,44 14 21,88 3 4,68
L11 64 45 70,31 15 23,44 4 6,25
Tính chung 128 92 71,88 29 22,66 7 5,46

Bảng 3: Chỉ tiêu số lượng lợn con theo dõi trên hai dòng nái

Chỉ tiêu theo dõi (con/lứa) Dòng nái L11 Dòng nái CP909
Số con đẻ ra/lứa 11,38 ± 0,21 11,63 ± 0,25
Số con sống đến 24 giờ 10,81 ± 0,25 11,00 ± 0,24
Số con còn sống đến 21 ngày (cai sữa) 10,39 ± 0,21 10,81 ± 0,22

Giải pháp kỹ thuật tác giả đề xuất và tham gia triển khai:

  • Về quản lý chuồng đẻ: Áp dụng triệt để nguyên tắc chăn nuôi "cùng vào - cùng ra" (all-in, all-out), duy trì trống chuồng tối thiểu từ 3 đến 6 ngày, tẩy uế bằng vôi bột gầm sàn và phun hóa chất sát trùng (Vikon S, Ominicide, Fam flus).
  • Về công tác đỡ đẻ và giảm hao hụt: Bố trí đầy đủ nhân lực trực đẻ trong các khung giờ cao điểm để xử lý xé bọc màng ối, hô hấp nhân tạo cho lợn ngạt và ngăn ngừa nguy cơ nái đè chết con trong những ngày đầu.
  • Về thao tác thú y: Thực hiện đồng thời quy trình tiêm sắt Fe-Dextran-B12 (2 ml/con), mài nanh, bấm số tai và cắt đuôi vào ngày thứ 2 - 3 để giảm tối đa số lần gây stress cơ học cho đàn con; thực hiện phòng cầu trùng bằng Toltrazuril 5% vào ngày thứ 4 và thiến sớm lúc 4 - 5 ngày tuổi có dùng thuốc kháng sinh giảm đau chống nhiễm trùng.

Đóng góp thực tiễn của đề tài: Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực chứng về năng suất sinh sản thực tế của hai dòng nái ngoại (L11 và CP909) nuôi trong điều kiện trại kín vùng bán sơn địa Hà Nội. Khẳng định hiệu quả của việc kết hợp chặt chẽ giữa chăm sóc dinh dưỡng từng giai đoạn với biện pháp phòng bệnh chủ động bằng kháng sinh và vắc xin tại một trang trại gia công quy mô công nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Đề tài được tiến hành trong thời gian 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11/2017), chịu ảnh hưởng bởi tính biến động thời tiết chuyển mùa từ hè nóng ẩm sang thu đông hanh lạnh của miền Bắc, gây áp lực lên hệ thống thông gió và sức đề kháng của vật nuôi.
  • Cơ sở vật chất của trang trại tại thời điểm nghiên cứu có một số hạng mục trang thiết bị, máy móc xuống cấp sau 7 năm vận hành (từ 2010), ảnh hưởng nhất định đến công tác vận hành chuồng trại.
  • Bối cảnh thị trường tháng 7/2017 chứng kiến sự sụt giảm mạnh của giá lợn hơi trên cả nước, gây khó khăn về chi phí sản xuất và đầu tư thuốc thú y của trang trại.
  • Quy mô khảo sát năng suất cá thể mới dừng lại ở phạm vi 128 nái sinh sản và 112 lợn con từ 10 ổ đẻ tại một đơn vị sản xuất duy nhất.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng thời gian theo dõi liên tục trong trọn vẹn chu kỳ các năm tiếp theo để đánh giá ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ (đặc biệt là mùa đông giá rét có mưa phùn) đến tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy và tỷ lệ nuôi sống của lợn con.
  • Tiếp tục theo dõi chi tiết hiệu quả điều trị của các phác đồ kháng sinh thế hệ mới đối với bệnh viêm tử cung ở nái và hội chứng tiêu chảy PED ở các lứa tuổi lợn con khác nhau.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị ứng dụng cụ thể:

  • Đối với sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y và Chăn nuôi Thú y: Là tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình kỹ thuật đỡ đẻ, nuôi dưỡng lợn nái chửa - nuôi con và các thao tác thủ thuật thú y sơ sinh (bấm tai, mài nanh, cắt rốn, mổ thoát vị bẹn - hecni, thiến lợn con).
  • Đối với kỹ thuật viên và chủ trang trại chăn nuôi lợn công nghiệp: Cung cấp quy chuẩn khẩu phần ăn thực tế theo từng ngày trước và sau đẻ; định mức sử dụng thuốc thú y phòng bệnh đường tiêu hóa và cầu trùng cho lợn con (Amoxicillin, Toltrazuril) cùng quy trình khử trùng chuồng đẻ theo nguyên tắc "cùng vào - cùng ra".

Câu hỏi thường gặp

1. Quy mô cơ sở vật chất và số lượng vật nuôi tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch ở thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu?
Trang trại có diện tích 2 ha, vốn đầu tư ban đầu 18 tỷ đồng (thành lập năm 2010). Khu sản xuất gồm 6 dãy chuồng đẻ, 1 chuồng bầu và 4 - 5 chuồng cách ly. Tính đến tháng 7/2017, trại nuôi 1.237 lợn nái sinh sản, 160 lợn nái hậu bị và 18 lợn đực giống phục vụ khai thác.

2. Lịch trình can thiệp kỹ thuật và thú y cho đàn lợn con theo mẹ từ lúc sinh đến cai sữa được thực hiện như thế nào?
Ngay sau khi sinh: cắt rốn, lau nhớt miệng mũi, bấm nanh.
Từ 2 - 3 ngày tuổi: bấm số tai, cắt đuôi, tiêm chế phẩm sắt Fe-Dextran-B12 (2 ml/con), cho uống phòng tiêu chảy bằng dung dịch Amoxicillin (liên tục 3 ngày).
Từ 3 - 4 ngày tuổi: cho uống 1 liều duy nhất 1 ml Toltrazuril 5% phòng bệnh cầu trùng.
Từ 4 - 5 ngày tuổi: tiến hành thiến lợn đực nuôi thịt có tiêm kèm 1 ml Amlistin.
Từ 4 - 6 ngày tuổi: đặt máng tập ăn sớm bằng thức ăn hoàn chỉnh 550 SF.
Từ 10 - 18 ngày tuổi: tiêm vắc xin phòng bệnh Mycoplasma và Circo.
Đến 21 ngày tuổi: tiến hành cai sữa cho lợn con.

3. Khả năng sinh sản của hai dòng nái L11 và CP909 tại trang trại có sự chênh lệch như thế nào?
Theo kết quả theo dõi trên 128 nái (64 nái mỗi loại), dòng nái CP909 có tỷ lệ đẻ bình thường là 73,44% (47 con), đẻ khó can thiệp kích tố là 21,88% (14 con) và can thiệp bằng tay là 4,68% (3 con). Dòng nái L11 có tỷ lệ đẻ bình thường là 70,31% (45 con), can thiệp kích tố là 23,44% (15 con) và can thiệp bằng tay là 6,25% (4 con). Sự khác biệt về năng suất sinh sản giữa hai dòng nái là không đáng kể, tỷ lệ đẻ bình thường chung toàn trại đạt 71,88%.

4. Số lượng lợn con đẻ ra và nuôi sống đến khi cai sữa ở hai dòng nái đạt các chỉ số cụ thể ra sao?
Số con đẻ ra/lứa ở dòng CP909 là 11,63 ± 0,25 con, sống sau 24 giờ là 11,00 ± 0,24 con và sống đến cai sữa 21 ngày là 10,81 ± 0,22 con. Ở dòng nái L11, số con đẻ ra/lứa đạt 11,38 ± 0,21 con, sống sau 24 giờ đạt 10,81 ± 0,25 con và sống đến cai sữa 21 ngày đạt 10,39 ± 0,21 con.

5. Lượng thức ăn cho nái chửa trước khi đẻ và nái nuôi con được điều chỉnh theo công thức nào?
Trước khi đẻ 3 ngày, khẩu phần ăn của nái chửa giảm xuống còn 1,5 kg/con/bữa. Ngày đẻ cho nhịn hoặc chỉ ăn cháo loãng/uống nước muối ấm; sau 2 ngày tăng dần 0,5 - 1 kg/con/ngày. Khi nuôi con từ ngày thứ 8 trở đi, lượng thức ăn tính theo công thức: Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con × 0,35 kg/con); chia làm 2 bữa sáng - chiều, điều chỉnh tăng giảm 0,2 - 0,5 kg tùy theo thể trạng béo hay gầy của nái.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Chinh đã phản ánh toàn diện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và thực hiện các biện pháp thú y cho đàn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Thanh Lịch. Các số liệu thực nghiệm trên 128 nái thuộc hai dòng giống CP909 và L11 cho thấy khả năng sinh sản của đàn nái đạt mức ổn định với tỷ lệ đẻ bình thường trên 70% và số con cai sữa/lứa bình quân đạt trên 10 con. Kết quả công tác kỹ thuật tại cơ sở chứng minh việc kết hợp giữa quy trình vệ sinh sát trùng chuồng trại "cùng vào - cùng ra" với các can thiệp thú y đúng thời điểm (bổ sung sắt, phòng cầu trùng, tập ăn sớm) đóng vai trò quyết định trong việc giảm thiểu tỷ lệ hao hụt đàn con và nâng cao năng suất chăn nuôi công nghiệp.