Đặt vấn đề Nông nghiệp giữ một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Cùng với trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng đang trên đà phát triển và dần trở thành ngành chính trong nền kinh tế nông nghiệp. Được sự quan tâm của nhà nước ngành chăn nuôi lợn đang phục hồi và phát triển, chăn nuôi lợn cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đáp ứng tiêu dùng trong nước và góp một phần đáng kể cho xuất khẩu, mang lại thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần vào ổn định đời sống của người dân. Cùng với xu hướng phát triển của xã hội thì chăn nuôi lợn cũng đang chuyển từ loại hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung trang trại, từ đó đã giúp ngành chăn nuôi lợn đạt được bước phát triển không ngừng cả về số lượng và chất lượng, bao gồm cả trang trại trong nhà nước và tư nhân.
Đồng thời thúc đẩy các ngành khác phát triển như: Công nghiệp chế biến thực phẩm, trồng trọt, thủy sản…Trong xu thế đó, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho nhập các giống lợn có năng xuất có chất lượng cao nhằm mục đích nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm. Mặt khác, nước ta cũng có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi lợn như nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn dồi dào, sự đầu tư của nhà nước… Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái là một khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công của ngành chăn nuôi lợn. Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái ở nước ta để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, và đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng và chất lượng. m 2 Tuy nhiên với sự đô thị hóa, công nghiệp hóa làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm, thời tiết khí hậu thay đổi làm cho dịch bệnh ngày càng phát triển, làm cho chăn nuôi ngày càng khó khăn, muốn thu được lợi nhuận cao ngoài các vấn đề con giống công tác dinh dưỡng, công tác thú y là vấn đề cần thiết quyết định thành công trong chăn nuôi.
Cùng với khả năng nhận thức, điều kiện sống của người dân ngày càng tăng kéo theo nhu cầu về chất lượng sản phẩm cao hơn. Điều này đòi hỏi chúng ta phải áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất để giúp chúng ta xử lí và khống chế dịch bệnh đảm bảo nhu cầu của người tiêu dùng cả về số lượng lẫn chất lượng của sản phẩm. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa CNTY – Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em thực hiện chuyên đề:’ Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại Hoàng Văn Viện, thành phố Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc’. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1.
Mục đích của chuyên đề - Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ - Thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ. - Đánh giá được tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại lợn Hoàng Văn Viện, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. - Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ. Yêu cầu của chuyên đề - Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ đồng thời học tập và bổ sung những kiến thức mới từ thực tiễn sản xuất - Ứng dụng các biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ vào thực tiễn chăn nuôi lợn tại trang trại.
m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Trang trại chăn nuôi lợn Hoàng Văn Viện thuộc thôn Cao Quang, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Thành phố Phúc Yên nằm ở phía Đông Nam tỉnh Vĩnh Phúc, phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 45 Km. Phúc Yên có chiều dài theo trục Bắc - Nam 24 km, từ phường Hùng Vương đến đèo Nhe, xã Ngọc Thanh giáp với tỉnh Thái Nguyên. Địa giới hành chính thành phố Phúc Yên: Phía Đông giáp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội Phía Tây giáp huyện Bình Xuyên Phía Nam giáp huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội Phía Bắc giáp thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Thành phố Phúc Yên có hệ thống giao thông đa dạng: đường bộ có các tuyến Quốc lộ 2, Quốc lộ 23, đường xuyên Á Hà Nội - Lào Cai đi qua; có đường sắt Hà Nội - Lào Cai, giáp cảng hàng không quốc tế Nội Bài, tạo điều kiện cho Phúc Yên tiềm lực, lợi thế để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, giao lưu kinh tế, văn hoá. - Điều kiện khí hậu Khí hậu là yếu tố quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân cũng như trong chăn nuôi, nó quyết định đến sự phát triển của ngành nông nghiệp trong đó có trồng trọt và chăn nuôi, mà hiện nay chăn nuôi đang có xu hướng tăng mạnh.
m 4 Xã Cao Minh cũng như Thành phố Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là 23°C, có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa Hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa Đông. Khí hậu tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng nhất là ngành chăn nuôi gia súc gia cầm. Nhiệt độ không khí có các đặc trưng sau: Cực đại trung bình năm là 20,5°C Cực đại tuyệt đối 41,6°C Cực tiểu tuyệt đối 3,1°C Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%. Hướng gió chủ đạo về mùa đông là Đông – Bắc, về mùa Hè là Đông – Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4 m/s.
Vận tốc gió cực đại có thể xảy ra theo chu kỳ thời gian 5 năm là 25 m/s; 10 năm là 32 m/s, 20 năm là 32 m/s. Tuy nhiên có những tháng bất lợi như mùa Hè nhiệt độ, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh. Sự biến đổi phức tạp của thời tiết gây nhiều khó khăn trong công tác chăn nuôi, đặc biệt nhiệt độ cao về mùa Hè, lạnh giá về mùa Đông ảnh huởng lớn tới khả năng sinh trưởng và mức chịu đựng của vật nuôi. Chính vì vậy việc phòng và trị bệnh cho đàn gia súc là rất quan trọng.
Tổng thu ngân sách các thành phần kinh tế trên địa bàn Phúc Yên chiếm trên 2/3 tổng thu Ngân sách của tỉnh Vĩnh Phúc. Thành phố Phúc Yên luôn xứng đáng là vùng trọng điểm kinh tế, là đầu tàu kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ cấu tổ chức trại Trại Hoàng Văn Viện mới được xây dựng xong đầu năm 2016 nên cơ sở vật chất vẫn còn mới. Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: - 01 quản lý trại - 02 kĩ thuật trại m 5 - 01 tổ trưởng chuồng bầu - 01 tổ trưởng chuồng đẻ - cai - 01 tổ trưởng chuồng thịt - 08 công nhân làm ngày và 01 công nhân trực đêm.
- 04 sinh viên thực tập Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ - cai, tổ chuồng nái chửa. Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại. Cơ sở vật chất của trang trại Cơ sở vật chất ở trại tương đối đầy đủ và hoàn thiện. * Về thiết kế xây dựng: Tổng diện tích là 3 ha.
Trước cổng có hệ thống phun sát trùng cho phương tiện ra vào trại và kho chứa thức ăn. Tiếp đến là phòng hành chính để tiếp khách, phòng họp, rồi đến khu nhà tập thể và nhà ăn cho công nhân của trại. Khu vực sản xuất theo thứ tự: khu vực xuất lợn thịt, chuồng cai sữa, sau đó lần lượt là các chuồng nái đẻ (1-2), chuồng nái bầu (1-2). Phòng pha chế và bảo quản tinh, kho thuốc được trang bị kính hiển vi, tủ lạnh, nhiệt kế.
Trại có 1 nhà kho để dự trữ thức ăn ở đầu khu vực sản xuất. Ở khu vực cuối trại có hệ thống Biogas, máy ép phân để xử lí phân và nước tiểu tiếp đến là nhà tiêu hủy lợn chết và nhau thai lợn sau khi sinh. * Điện, nước: Hệ thống lưới điện được kéo khắp khu vực trại, có một máy phát điện được dùng khi mất điện. Nước được cung cấp bởi hệ thống giếng khoan, nước được bơm từ giếng lên bể chứa và được xử lí với clo.
m 6 * Chuồng bầu: Có 1 chuồng bầu chia làm 4 dãy, có sức chứa tối đa là 320 con. Dãy 1 và dãy 2 để thử, ép, phối lợn và nuôi nhốt nái chửa kỳ 1, dãy 3 và dãy 4 nuôi lợn nái chủa kỳ 2. Ở đầu mỗi chuồng có hệ thống dàn mát và 8 quạt hút gió phía cuối chuồng. Sàn toàn bộ là bê tông, cao hơn hơn so với nền chuồng thuận tiện cho công việc vệ sinh, khử trùng.
Ở đầu dãy 1 và dãy 2, mỗi dãy có 1 ô rộng là nơi để kiểm tra lên giống và ép giống, tiếp đó là 2 ô lợn đực giống, còn lại là các ô lợn nái. Các ô trong chuồng đều có vòi uống tự động cao 50 - 55 cm. Chuồng có hệ thống ống dẫn nước dọc hai bên dãy chuồng để thuận tiện phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa máng, xịt gầm. * Chuồng nái nuôi con: Có 1 chuồng nái nuôi con, chia làm 2 dãy, có sức chứa tối đa là 80 con.
Ở đầu chuồng có hệ thống dàn mát và 8 quạt hút gió phía cuối chuồng. Sàn cho lợn mẹ là sàn bê tông còn lại toàn bộ sàn cho lợn con là sàn nhựa, sàn cao hơn so với nền chuồng. Mỗi ô để có vòi uống tự động cho cả lợn con và lợn mẹ, có hệ thống máng tập ăn cho lợn con được lắp vào lúc 5 ngày tuổi. Có hệ thống ống dẫn nước dọc hành lang hai bên để phục vụ cho công việc vệ sinh, xịt gầm.