Đặt vấn đề Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật , nền nông nghiệp nước ta đã và đang phát triển không ngừng. Bên cạnh ngành trồng trọt thì ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng cũng chiếm một vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước. Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là việc làm cần thiết. Tuy vậy, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến đã gây ra nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong các trang trại cũng như mô hình chăn nuôi hộ gia đình.
Đặc biệt là các bệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do khả năng thích nghi của đàn lợn nái ngoại với khí hậu nước ta chưa tốt. Do nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đang có những bước chuyển mình từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung với quy mô vừa và lớn (Báo điện tử ĐCSVN, 2018) [30]. Trong những năm gần đây, đã xuất hiện mô hình chăn nuôi mới đó là mô hình chăn nuôi gia công, một hình thức hợp tác giữa những cơ sở chăn nuôi nhỏ và công ty chăn nuôi với hình thức hợp tác này thì cơ sở chăn nuôi không phải lo đầu ra và sự bất ổn của thị trường thức ăn mà hiệu quả mang lại từ mô hình này vẫn khá cao (Báo tiếng Việt, 2018) [32]. Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở thực m 2 tập, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Nguyễn Xuân Tiến, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội”.
Mục đích của chuyên đề - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại Nguyễn Xuân Tiến, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội - Nắm được tình hình và tỷ lệ mắc một số bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại cơ sở. - Xây dựng được phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn hiệu quả nhất. Yêu cầu của chuyên đề - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Nguyễn Xuân Tiến, Huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội - Nắm được tình trạng mắc một số bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại. - Tìm ra biện pháp tốt nhất để phòng và điều trị bệnh trên đàn lợn nuôi tại cơ sở.
- Hoàn thiện thêm kỹ năng, tay nghề trong thời gian thực tập. m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên 2.
Vị trí địa lý Trang trại Nguyễn Xuân Tiến nằm địa phận thuộc thôn Đập Tràn xã Đồng Tháp huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Phía Đông tiếp giáp với xã Song Phượng Phía Tây và phía nam tiếp giáp với sông Đáy Phía Bắc giáp với đường quốc lộ 32. Đất đai, địa hình Khu đất xây dựng trang trại hiện là đất ven sông, chủ yếu là đất phù sa tương đối bằng phẳng. Địa hình cao hơn ở phía bắc, thấp hơn ở phía Đông và Nam.
Độ dốc không lớn lắm bình quân 5o- 8o thích hợp với việc canh tác nhiều loại cây ăn quả và cây lương thực 2. Dân cư Theo tài liệu thống kê năm 2018 dân số của toàn huyện là 162 900 người, trong đó 5% dân số theo đạo thiên chúa. Phần lớn người dân sống bằng ngành nghề kinh doanh, trồng rau củ, cây ăn quả, cây lương thực ( lúa, ngô, khoai, sắn. Điều kiện khí hậu, thời tiết Cơ sở thực tập nằm trên địa bàn của huyện Đan Phượng thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Nhiệt độ trung bình 22,7 - 24,10C; Lượng mưa trung bình 1.5mm; Độ ẩm trung bình 81,3%; Số giờ nắng trong năm từ 1530 - 1776 giờ. m 4 Hướng gió chủ đạo là gió Đông Nam và Đông Bắc. Hàng năm có gió bão, mưa to, gió mạnh. Hướng cấp nước: Giải pháp cấp nước của trang trại là giếng khoan với lưu lượng 10m3/h và xử lý nước đạt tiêu chuẩn công nghiệp thực phẩm để cung cấp cho sinh hoạt Hướng thoát nước: Nước mưa được thoát theo dốc của địa hình.
Nước thải sản xuất - sinh hoạt được xử lý đạt tiêu chuẩn nước thải phục vụ thủy lợi dẫn đến hồ sinh học và thoát ra kênh thủy lợi. Cấp điện: Trang trại được cấp điện từ đường dây 35KV ở phía Tây Bắc, cách nhà máy khoảng 200m. Giao thông, thủy lợi Có đường Quốc lộ 32 từ trung tâm Hà Nội chạy qua đi Sơn Tây, là ngã tư đường rẽ đi các huyện Sơn Tây, huyện Hoài Đức, huyện Phúc Thọ, huyện Đông Anh. Có hệ thống sông Hồng và sông Đáy chảy qua.
Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của cơ sở thực tập 2.1 Quá trình thành lập và phát triển của trang trại Trang trại sản xuất lợn hướng nạc của ông Nguyễn Xuân Tiến trên địa phận thôn Đập tràn - Xã Đồng Tháp - huyện Đan Phượng - thành phố Hà nội. Trại được xây dựng và đi vào hoạt đông từ năm 2012, là trại lợn gia công cho Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi C.P và trại được ông Nguyễn Xuân Tiến mua lại cách đây 3 năm 2.2 Cơ sở vật chất của trang trại - Trại lợn có khoảng 8000m2 đất để xây dựng trang trại, có nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. - Khu nhà ở của công nhân được xây ở cuối hướng gió; nhà ở được lợp mái nhựa ; có 1 dãy nhà ở gồm 5 phòng. m 5 - Khu nhà ăn xây dựng khang trang, sạch sẽ.
Khu nấu ăn được trang bị tủ lạnh, bếp ga để thuận tiện cho việc bảo quản và chế biến thức ăn. - Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho khoảng 300 nái bao gồm: 1 chuồng đẻ có 74 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô; 1 chuồng bầu có 250 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô; 2 ô cho đực giống + kích thước 3m × 3m. 1 chuồng cai sữa gồm 3 ô, mỗi ô 64m2 Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: khu cách ly, Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc. - Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn.
Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng có 8 quạt thông gió. Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính; mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m²; cách nền 1,2m; mỗi cửa sổ cách nhau 0,8m. Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng xốp cách nhiệt. - Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, tủ lạnh, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác.
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông. - Hệ thống nước của trang trại cả nước sinh hoạt và được sử dụng trong chăn nuôi là nước giếng khoan do trại tự khoan. Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, nước rửa chuồng được bơm từ giếng khoan lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau.3 Cơ sở hạ tầng của trại - Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: + Khu nhà ở của công nhân được xây rộng rãi với nhà ăn, nhà tắm, nhà vệ sinh sạch, sẽ đầy đủ tiện nghi. + Khu chăn nuôi có hệ thống chuồng được xây dựng khép kín.
m 6 - Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau: 01: Chủ trại là ông Nguyễn Xuân Tiến. 01: Kỹ thuật trại. 02: công nhân và 03 sinh viên thực tập.
Mọi người có trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại. Với đội ngũ nhân lực trên, cùng thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại. Thuận lợi, khó khăn 2. Thuận lợi - Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông.
- Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. - Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc. - Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị khá hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay. Khó khăn - Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao.
- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi. m 7 - Lợn giống nhập ngoại nên khả năng thích nghi với khí hậu Việt Nam kém, đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc đặc biệt. - Trên thị trường giá thịt lợn không ổn định làm ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng, mà còn gây không ít khó khăn đối với thịt lợn của các trang trại chăn nuôi theo tiêu chuẩn vì chất lượng thịt tốt hơn so với chất lượng thịt bán ngoài chợ nên giá thành đắt hơn. Tuy nhiên, vì lợi nhuận nhiều trang trại thu gom lợn từ dân sau đó dán mác thịt lợn sạch và bán ra thị trường với giá rẻ hơn.
Cơ sở khoa học của chuyên đề 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh của lợn 2. Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc Quy trình nuôi dưỡng Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa. Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó hoặc ép thai chết ngạt.
Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn.