Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, đại dịch Covid-19 đã ảnh không nhỏ đến nền kinh tế Việt nam. Trong đó, ngành chăn nuôi cũng chịu không ít ảnh hưởng. Hiện nay, kinh tế đất nước đang dần hồi phục và ổn định trở lại, song song ngành chăn nuôi cũng đang dần ổn định và khẳng định vị trí của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Trong đó chăn nuôi lợn giữ một vị trí rất quan trọng trong ngành chăn nuôi nước ta.
Giai đoạn 2015-2021, tổng đàn lợn cả nước tăng trưởng bình quân 0,2%/năm. Mỗi năm, ngành chăn nuôi lợn đã phân phối một khối lượng lớn thực phẩm cho con người, vì thịt lợn là loại thực phẩm chính trong hầu hết các bữa ăn của người Việt Nam. Không những vậy, chăn nuôi lợn còn cho ra một khối lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một vài sản phẩm phụ của chúng làm nguyên vật liệu bổ sung cho lĩnh vực công nghiệp chế biến. Thịt lợn không những thiết yếu cho yêu cầu dưỡng chất của con người mà lại hợp với khẩu vị của hầu hết người dùng nó.
Do vậy, để đáp ứng nhu cầu cấp thiết này, Đảng và Nhà nước đang hết sức lưu tâm đến việc phát triển chăn nuôi lợn. Các nhà khoa học việt nam cũng đã cho lai đàn lợn nội và các giống lợn ngoại có tầm vóc lớn, phát triển nhanh, tỉ lệ nạc cao. Đồng thời là việc sử dụng phương pháp chăn nuôi theo hướng công nghiệp, ứng dụng những phương án kỹ thuật tân tiến, chế biến đồ ăn cao cấp với các loại món ăn thay thế, kết hợp lượng đồ ăn có đủ các dưỡng chất và tiếp tục dõi theo đầu tư phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng. Để tiến triển chăn nuôi lợn cần làm tốt các khâu vệ sinh chăn nuôi và phòng bệnh, tham gia tăng cường, nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, bảo đảm lợn con phát triển nhanh, mạnh khỏe và phân phối con giống có chất lượng cao cho xã hội.
2 Xuất phát từ những thực tiễn trên, và được sự đồng thuận của khoa chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm tỉnh Thái Nguyên và thầy cô giáo hướng dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên đề : “ Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho lợn nái mang thai nuôi tại trại lợn Bích Cường, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Hoàn chỉnh kiến thức lý thuyết đã học trên giảng đường, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của bản thân - Áp dụng quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái mang thai nuôi tại trại Bích Cường. - Tìm hiểu và chẩn đoán một số bệnh thường xảy ra ở lợn nái sinh sản - Áp dụng thực hiện các phương pháp phòng và trị bệnh mang lại hiệu quả nhất.
- Nâng cao khả năng giao tiếp, kỹ năng mềm, kỹ năng sử lý tình huống trong đời sống cũng như trong công việc. Yêu cầu - Khái quát, đánh giá được bối cảnh chăn nuôi lợn tại trại Bích Cường, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (liên kết với công ty De Heus) - Thực hiện được thành thục, nhuần nhuyễn các phương pháp chăn nuôi, chăm sóc cho đàn lợn nái tại trại. - Biết và thực hiện được quy trình phòng bệnh và điều trị bệnh cho lợn nái của trại - Áp dụng được những kiến thức đã được học vào thực tế chăn nuôi lợn nái, cùng với đó học tập và biết thêm các kiến thức mới từ thực tế.
3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý : Trại được xây tại xã Nghĩa Đạo, nằm ở phía Nam huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, xã có quốc lộ 38 chạy dọc qua. Tổng diện tích đất vốn có của xã là 725 ha.
- Phía Đông giáp huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh. - Phía Tây giáp huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên. - Phía Nam giáp huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương. - Phía Bắc tiếp giáp với xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Xã Nghĩa Đạo cách thị trấn Hồ của huyện Thuận Thành 7 km, cách thành phố Bắc Ninh 25 km về phía Bắc, cách Hải Dương 30 km về phía Nam và chỉ cách thành phố Hà Nội 30 km theo đường quốc lộ 282. Xã Nghĩa Đạo nằm tiếp giáp với ba tỉnh : Bắc Ninh, Hải Dương và Hưng Yên, nên thuận lợi phát triển, giao thương về nông nghiệp, thương mại, du lịch, thúc đẩy cho việc phát triển chăn nuôi cũng như phát triển kinh tế. * Khí hậu Xã Nghĩa Đạo thuộc vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa mưa từ tháng 04 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 70% lượng mưa cả năm và tập trung vào các tháng là 7, 8, 9 hướng gió chủ đạo theo hướng Đông Nam.
Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 của năm sau, tháng 1, tháng 2 thường sẽ có mưa phùn cộng với giá rét kéo dài do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh, gió chủ đạo theo hướng Đông Bắc. 4 * Lượng mưa: Lượng mưa chiếm khoảng 85% lượng mưa cả năm, bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10. Với trung bình tổng lượng mưa là 1331mm, trung bình số ngày mưa là 144,5 ngày. Tháng 12 mưa cực điểm 12 -18 mm.
Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: 01 chủ trại. 1 kỹ thuật công ty De Heus. 3 tổ trưởng (01 tổ trưởng phụ trách chuồng thịt, 01 tổ trưởng phụ trách chuồng đẻ, 01 tổ trưởng phụ trách chuồng bầu). 06 sinh viên thực tập.
Với số lượng công nhân của trai, trại tách ra làm các tổ, nhóm như tổ nái đẻ, tổ nái bầu, tổ chuồng thịt và tổ cai sữa. Mỗi một khâu đều được phân công cụ thể đến từng người lao động và sinh viên, nhằm phát huy tinh thần tự giác của mọi người, xúc tiến sự đi lên của trại. Cơ sở vật chất của trang trại - Tổng diện tích của trại là 24,896 m2 gồm : khu chăn nuôi lợn, khu sinh hoạt cho người lao động, ao cá, hầm biogas và các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, rau quả. - Trại lợn được phân thành hai khu là khu quản lý và khu sản xuất.
+ Khu quản lý gồm nơi làm việc của quản lý trại, kế toán trại và nơi sinh hoạt chung của tất cả mọi người. + Khu sản xuất gồm : 10 chuồng đẻ (6 chuồng vẫn đang hoạt động), 2 chuồng bầu, 2 chuồng an thai, 1 chuồng hậu bị, 1 chuồng cách ly, 4 chuồng cai 5 sữa, 4 chuồng thịt. Nhiều công trình khác như : kho chứa thức ăn, phòng pha tinh, kho chứa thuốc, nhà sát trùng, kho chứa chất liệu chăn nuôi, kho vôi và nhiều công trình phục vụ cho trại đang xây khác. - Hai chuồng bầu có sức chứa hơn 400 nái, chia ra thành từng ô nái riêng, mỗi ô đều có hệ thống cám và nước tự động, kích thước mỗi ô là 2,4 m x 0,65 m.
Mỗi chuồng đẻ được phân riêng biệt gồm 32 ô chứa nái mỗi chuồng. Cả chuồng đẻ và chuồng bầu đều có hệ thống nước để vệ sinh, rửa gầm chuồng riêng. Chuồng cai sữa là chuồng nền bằng đệm nót sinh học, trung bình nuôi từ 80 đến 90 lợn con. Hai chuồng an thai và chuồng hậu bị đang tạm thời dừng hoạt động.
- Chuỗi chuồng được xây dựng khép kín triệt để, tối tân, có hầm biogas không bỏ phí hết lượng rác thải trong chăn nuôi. Bên trên đầu chuồng là chuỗi giàn mát và chuỗi máng tự động, cuối mỗi chuồng là quạt thông gió. Phòng pha tinh của trại: có đầy đủ những máy móc như: kính hiển vi, trang thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, cốc thủy tinh để khai thác và pha tinh, nồi hấp cách thủy, tủ lạnh để bảo quản tinh, và nhiều máy móc khác. Hệ thống nước đều là nước giếng khoan.
Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, tạo nên ở đầu chuồng nái đẻ. Nước tắm, nước xả gầm, nước đáp ứng cho công việc khác được bơm qua chuỗi ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng. Thuận lợi, khó khăn 2. Thuận lợi - Trại cách xa khu dân cư, có đường giao thông đi lại thuận lợi.
- Nguồn nước luôn đảm bảo để phục vụ cho việc chăn nuôi. - Đội ngũ quản lý, kỹ thuận được đào tạo chuyên sâu, có tay nghề cao, nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi, có tinh thần trách nghiệm cao. 6 - Công nhân, người lao động năng động, nhiệt tình, có kinh nghiệm và trách nghiệm với công việc. - Trại được xây dựng trên mô hình hiện đại, mọi trình tự chăn nuôi theo hình thức khép kín.2 Khó khăn - Khí hậu không thuận lợi, thời tiết biến đổi thất thường nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn.
- Trại được trang bị máy móc hiện đại nên vốn đầu tư ban đầu để mở trang trại và các thiết bị rất lớn. - Từ tháng 2 khí hậu thay đổi nhiệt độ tăng cao nên gặp nhiều vấn đề trong quản lí chăm sóc ví dụ như lợn sốt nhiều hay sảy thai đẻ non cũng tăng. - Giá thức ăn chăn nuôi ngày một tăng cao. - Giá xuất lợn thì không ổn định.
- Dịch tả lợn châu phi vẫn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến quá trình chăn nuôi, gây tổn thất về kinh tế. Tổng quan tài liệu 2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái * Sự thành thục về tính Lúc vật nuôi đã thuần thục về tính, bộ máy sinh dục đã hoàn chỉnh, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục. Những con cái có tình trạng động dục, con đực có hiện tượng giao phối.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính + Giống : Tuỳ từng giống mà độ tuổi thành thục về tính cũng khác nhau, giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn. 7 Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỳ (2003) [4] đưa ra quan điểm, tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg. ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn là lợn nội thuần, ở lợn lai f1 (sẵn máu nội) động dục lần đầu lúc 6 tháng tuổi, khối lượng đạt từ 50 - 55 kg. Ở lợn ngoại động dục muộn hơn đối với lợn lai, tức là động dục vào lúc 6 - 7 tháng khi đó, lợn có khối lượng 60 - 80 kg.