Đặt vấn đề Cùng góp phần vào sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam, ngành chăn nuôi hiện nay đóng vai trò là ngành sản xuất chính trong sự phát triển của nền kinh tế và xã hội. Chăn nuôi được chú trọng gồm: chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà,. Đặc biệt phải kể đến ngành chăn nuôi lợn, chăn nuôi lợn chiếm trên 60% giá trị ngành chăn nuôi, cụ thể tổng đàn lợn trên cả nước đạt 28,159 triệu con, sản lượng lợn thịt đạt 4,18 triệu tấn. Một tín hiệu đáng mừng đó là chăn nuôi đang chuyển dịch từ chăn nuôi quy mô nhỏ sang chăn nuôi có quy mô lớn, tăng phát triển các mô hình trang trại, tập trung và hình thành các chuỗi giá trị.
Theo Cục Chăn nuôi (Bộ NN& PTNT), cả nước có 20.843 cơ sở chăn nuôi với tổng đàn 11,7 triệu con, chiếm 41,6% tổng đàn lợn của cả nước, và 16 doanh nghiệp và đơn vị chăn nuôi quy mô lớn, đạt 5,8 triệu con, chiếm 20,7% tổng đàn. Đây chính là bước chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi để từng bước hiện đại hóa ngành chăn nuôi. Lợn là loài ăn tạp thích ứng với mọi hoàn cảnh chăn nuôi có thể chăn nuôi nông hộ hay chăn nuôi công nghiệp do khả năng tăng trọng cao, rút ngắn thời gian nuôi nên quay vòng sản phẩm nhanh. Thịt lợn được xem là nguồn thực phẩm thiết yếu, là nhu cầu của hàng trăm hàng triệu người tiêu dùng.
Vì vậy, lợn được chăn nuôi rộng rãi, phát triển ở hầu khắp các nước trên thế giới. Bên cạnh những thuận lợi của ngành chăn nuôi, thực trạng chăn nuôi lợn hiện nay còn gặp phải nhiều khó khăn và thách thức. Trước tình hình diễn biến phức tạp như năm 2021 vừa qua, là ảnh hưởng của dịch bệnh covid 19, Dịch tả lợn châu phi đã để lại hậu quả nghiêm trọng cho người chăn nuôi. Khi dịch bệnh không được kiểm soát sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại của 2 vi khuẩn, virus gây bệnh trên đàn lợn gây thiệt hại kinh tế không nhỏ cho người chăn nuôi.
Để góp phần khống chế dịch bệnh, giảm thiệt hại do dịch gây ra cũng như góp phần đưa ngành chăn nuôi trở thành một ngành mũi nhọn trong nền kinh tế thì trước tiên cần xây dựng kế hoạch phòng bệnh đúng kỹ thuật, khống chế được nguồn lây nhiễm bệnh từ trong ra ngoài,. Do đó chăm sóc, nuôi dưỡng là nhân tố quyết định sự sinh trưởng và phát triển của đàn lợn con theo mẹ. Thực hiện tốt công tác vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng kết hợp sử dụng vắc xin phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị bệnh là biện pháp hiệu quả nhất trong công tác chăn nuôi. Trong chăn nuôi hiện nay, chăm sóc lợn con theo mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc tái đàn nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
Lợn con sơ sinh rất mẫn cảm với virus, vi khuẩn, việc chăm sóc tốt giúp lợn con hạn chế mắc các bệnh đường tiêu hóa , viêm khớp, thiếu máu,. Xuất phát từ tình hình thực tế, được sự đồng ý của BCN khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và giảng viên hướng dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên đề: "Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trang trại Nguyễn Thị Ánh Tuyết, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích của chuyên đề - Giúp sinh viên nâng cao kiến thức chuyên môn thông qua việc áp dụng các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phòng và trị bệnh cho lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại.
- Xác định được tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con theo mẹ tại trại lợn Nguyễn Thị Ánh Tuyết. Từ đó chẩn đoán và điều trị bệnh thường gặp ở lợn con nuôi tại trại. Yêu cầu của chuyên đề - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại lợn Nguyễn Thị Ánh Tuyết liên kết với công ty Greenfeed. Áp dụng các kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy trình thực hiện đàn lợn con nuôi tại trang trại.
- Thực hiện các quy trình, kỹ thuật nuôi dưỡng cũng như các công tác phòng và điều trị bệnh tổng hợp. - Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn, từ đó đề ra các biện pháp xử lý phòng và điều trị bệnh đạt hiệu quả cao. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Trại nằm trên địa phận của thôn Cao Quang, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Trang trại được xây dựng theo mô hình hiện đại do bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết làm chủ. Trại bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2015 và được cán bộ quản lý, kỹ thuật của Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại.
Phúc Yên có tổng diện tích khoảng 12.029,55 ha, chia làm 2 dạng địa hình chính là đồi núi bán sơn địa và đồng bằng. Nhờ có vị trí địa lý và diện tích rộng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành chăn nuôi công nghiệp và hoạt động giao thương giữa các vùng lân cận. Đặc điểm khí hậu, địa hình Về địa hình: Phúc Yên là một thành phố trực thuộc xã tỉnh Vĩnh Phúc Thành phố Phúc Yên có địa hình đa dạng, tổng diện tích là 12029,55 ha, chia thành 2 vùng chính là vùng đồi núi bán sơn địa (Cao Minh, Ngọc Thanh, Xuân Hoà, Đồng Xuân), diện tích 9700 ha. Về khí hậu: Thành phố Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là 23°C.
Khí hậu tương đối thuận lợi cho sự phát triển của nền nông nghiệp đa dạng với đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa đông. Độ ẩm không khí trung bình năm thường là 83% và độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%. Mạng lưới giao thông Thành phố có vị trí thuận lợi về giao thông, đường bộ, đường sắt và đường hàng không với sân bay quốc tế Nội Bài. Ngoài ra, hệ thống đường 5 giao thông nội thành đã cơ bản được quy hoạch, nâng cấp với chất lượng tốt, đảm bảo phục vụ đời sống dân sinh và thu hút đầu tư vào thành phố.
Do vậy, thành phố Phúc Yên có nhiều cơ hội, lợi thế để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội với các vùng miền trong nước. Và cũng vì thế nên có mạng lưới giao thông rất thuận lợi trong chăn nuôi công nghiệp lớn, nhỏ giúp quá trình vận chuyển, xuất bán lợn thuận tiện hơn. Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của trại 2. Cơ cấu tổ chức của trại - Trại gồm có 5 người trong đó có: + 1 quản lý + 1 kỹ sư của Công ty thức ăn chăn nuôi GreenFeed + 1 công nhân và 2 sinh viên thực tập 2.
Cơ sở vật chất của trại Hình 2. Hình ảnh mô phỏng cách bố trí của trại Trang trại có diện tích khoảng 1200 m2 với hệ thống chuồng nuôi được bố trí tách biệt, xa khu dân, tránh gây ô nhiễm môi trường và hạn chế được dịch bệnh xảy ra. Trại được xây dựng phù hợp với diện tích và yêu cầu của chủ trại gồm 3 chuồng: chuồng bầu, chuồng đẻ và chuồng cách ly. Trong đó chuồng bầu và chuồng nái đẻ chung lối vào và ngăn cách nhau bởi 1 bức tường.
Trang trại bố trí xây dựng theo kiểu 2 mái là 2 dãy chuồng chạy dài. 6 + Chuồng đẻ với 38 ô nái được chia làm hai dãy chuồng để phục vụ cho lợn đến ngày đẻ. Các ô chuồng được ghép bởi các tấm đan nhựa cách biệt với mặt nền chuồng khoảng 70 cm. Với thiết kế như vậy giúp chuồng luôn sạch sẽ khô ráo.
Phân lợn con thải ra sẽ rơi xuống gầm chuồng và theo rãnh nước đẩy ra ngoài. Đảm bảo vấn đề vệ sinh, độ ẩm, nhiệt độ sẽ giúp lợn con ít gặp vấn đề tiêu chảy hay các vấn đề ngoại khoa khác. + Chuồng bầu gồm 2 dãy chuồng với 105 ô chuồng cũi sắt và 1 ô chuồng lớn khoảng 4m2 dùng để thử lợn lên giống. Số lợn nái ban đầu là 122 nái và 2 lợn đực phục vụ cho quá trình thí tình cho lợn nái khi phối.
Toàn bộ khung chuồng được làm bằng sắt, nền chuồng được lắp bởi các tấm bê tông cách mặt đất 60cm. Với cách xây dựng nền chuồng như vậy sẽ đảm bảo vệ sinh sạch sẽ khô ráo, giúp lợn gặp ít vấn đề bệnh tật hơn. Hệ thống chuồng nuôi được thiết kế xây dựng với mô hình hiện đại thuộc dạng chuồng kín. Ở vị trí đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng là quạt hút gió nhằm duy trì nhiệt độ, độ ẩm chuồng nuôi, hút khí hôi tồn đọng trong chuồng trại ra ngoài.
Trong chuồng nuôi luôn có đầy đủ hệ thống điện chiếu sáng và đồng hồ đo nhiệt độ, độ ẩm đảm bảo tiêu chí “thoáng mát về mùa hè, ấm áp vào mùa đông”, theo dõi được nhiệt độ và độ ẩm hằng ngày. Chuồng nuôi phải luôn luôn có điện để chiếu sáng và đảm bảo nhiệt độ cơ thể vật nuôi, tránh gây stress nhiệt. Phải có hệ thống báo động và các thiết bị khẩn cấp như máy phát điện sẵn sàng trường hợp mất điện. Ngoài ra, toàn bộ nhân viên cũng phải nắm được quy trình xử lý khi có báo động xảy ra, nhằm giảm thiểu ảnh hưởng do stress nhiệt gây ra cho lợn.
Đầu chuồng được lắp đặt hệ thống máy bơm nước dẫn nước đến các chuồng: chuồng bầu và chuồng đẻ, phục vụ tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày. Hệ thống thoát phân và nước thải cuối chuồng được xử lý hợp vệ sinh, không gây ô nhiễm cho người dân xung quanh. Nước thải được dẫn 7 ra bể biogas xử lý làm nhiên liệu đốt. Phân thì được gom vào từng bao tải hết giờ đẩy ra phía ngoài chuồng và bán cho các nhà vườn.
Mỗi chuồng đều có hệ thống vòi uống nước, ống dẫn nước tự động hiện đại và đảm bảo nguồn nước sạch cho lợn uống. Ngoài ra còn có chuồng cách ly để cách ly lợn hậu bị sinh sản khi nhập từ bên ngoài vào. Thời gian cách ly ít nhất 8 tuần trước khi nhập vào đàn hiện có. Với mục đích kiểm soát dịch bệnh và thực hiện tiêm chủng trước khi nhập đàn, để đảm bảo cho lợn hậu bị nhập về không mang mầm bệnh lây lan cho đàn lợn của trại.
Trong trường hợp không có lợn hậu bị cách ly, sẽ dùng chuồng cách ly để nuôi lợn con cai sữa chờ bán.