Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong định hướng phát triển chăn nuôi của Việt Nam theo mục tiêu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến năm 2020, ngành chăn nuôi chuyển dịch mạnh mẽ sang phương thức tập trung quy mô công nghiệp, sản xuất hàng hóa nhằm đảm bảo an toàn sinh học và an toàn thực phẩm theo chuỗi khép kín từ chuồng trại đến bàn ăn. Trong cơ cấu vật nuôi, đàn lợn chiếm vị trí chủ lực về số lượng và tỷ trọng sản phẩm cung ứng ra thị trường. Tuy nhiên, sự phát triển của chăn nuôi công nghiệp tập trung luôn đi kèm nguy cơ bùng phát dịch bệnh, trong đó hội chứng tiêu chảy ở gia súc non là một trong những trở ngại kỹ thuật và kinh tế lớn nhất. Bệnh lây lan nhanh, gây rối loạn tiêu hóa, mất nước và điện giải nghiêm trọng, dẫn đến còi cọc, giảm khả năng tăng trọng hoặc tử vong nếu không được can thiệp kịp thời. Để đối phó với tình trạng này, nhiều cơ sở chăn nuôi đã lạm dụng kháng sinh trộn vào thức ăn và nước uống, gây ra hiện tượng kháng kháng sinh gia tăng và tồn dư hóa chất trong sản phẩm thịt.

Xuất phát từ thực tế sản xuất tại trại chăn nuôi lợn Nguyễn Thanh Lịch (xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội) – một cơ sở nuôi gia công lợn nái ngoại sinh sản quy mô lớn cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam, tác giả Nguyễn Công Quỳnh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn sau:

  1. Đánh giá thực trạng lợn con mắc hội chứng tiêu chảy tại trại chăn nuôi lợn Nguyễn Thanh Lịch, Ba Vì, Hà Nội.
  2. Đánh giá hiệu lực điều trị hội chứng tiêu chảy trên lợn con của hai loại thuốc kháng sinh: Nova-Amcoli và Nor 100.

Nghiên cứu có ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung tư liệu dịch tễ học về hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ tại địa bàn huyện Ba Vì, đồng thời mang ý nghĩa thực tiễn khi đánh giá hiệu quả của phác đồ can thiệp kết hợp kháng sinh và thuốc bổ trợ để phục vụ trực tiếp cho công tác kiểm soát dịch bệnh tại trang trại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn con theo mẹ giai đoạn từ 1 đến 21 ngày tuổi (lợn lai ngoại sinh ra từ nái Landrace - Yorkshire phối với đực Pietrain - Duroc hoặc đực Duroc); hai loại chế phẩm điều trị gồm Nova-Amcoli (thành phần Ampicillin 10 mg/ml) và Nor 100 (thành phần Norfloxacin 10%).
  • Phạm vi không gian: Trại chăn nuôi lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày 18 tháng 11 năm 2015 đến ngày 25 tháng 05 năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở khoa học

Tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên đặc điểm sinh lý học gia súc non, bệnh lý học thú y và dược lý học lâm sàng:

  • Đặc điểm sinh lý lợn con theo mẹ: Giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi, lợn con chuyển từ môi trường tử cung ổn định (38 - 40°C) ra môi trường bên ngoài. Bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện, dịch vị thiếu axit hydrochloric (HCl) tự do và các men tiêu hóa; hệ thống điều hòa thân nhiệt kém do trung khu vỏ não chưa hoàn chỉnh và diện tích bề mặt cơ thể lớn so với khối lượng; hệ miễn dịch chưa chủ động sản sinh kháng thể mà phụ thuộc hoàn toàn vào kháng thể thụ động truyền qua sữa đầu (lượng globulin miễn dịch đạt đỉnh rồi giảm mạnh sau 3 - 4 tuần).
  • Hệ vi sinh vật đường ruột và cơ chế bệnh sinh: Đường ruột gia súc tồn tại trạng thái cân bằng động giữa vi khuẩn đường ruột bắt buộc (Escherichia coli, Salmonella, Shigella, Proteus, Clostridium perfringens) và vi khuẩn vãng lai. Khi gặp các yếu tố bất lợi (stress nhiệt, chuồng ẩm ướt trên 90%, thức ăn tập ăn sớm, sữa mẹ giảm chất lượng), cân bằng này bị phá vỡ. Hội chứng tiêu chảy diễn ra theo hai cơ chế: tiêu chảy xuất tiết (do ngoại độc tố hoặc nội độc tố của vi khuẩn như E. coli mang kháng nguyên bám dính F4, F5, F6, F41 kích thích niêm mạc ruột tăng bài tiết nước và ion) và tiêu chảy thẩm thấu (do chất dinh dưỡng không tiêu hóa tích tụ trong lòng ruột làm tăng áp suất thẩm thấu).
  • Cơ chế tác dụng của thuốc thử nghiệm:
    • Nova-Amcoli: Hoạt chất chính là Ampicillin (kháng sinh bán tổng hợp nhóm beta-lactam), cơ chế ức chế tổng hợp mucopeptid vách tế bào vi khuẩn thông qua việc gắn vào các protein PBP, làm ly giải tế bào vi khuẩn gram âm và gram dương.
    • Nor 100: Hoạt chất Norfloxacin (nhóm fluoroquinolone), cơ chế ức chế enzym DNA gyrase, ngăn cản quá trình nhân đôi DNA của vi khuẩn.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Khóa luận kết hợp phương pháp điều tra dịch tễ học mô tả tại thực địa và phương pháp thử nghiệm lâm sàng so sánh:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu theo dõi trực tiếp từ 654 lợn con thuộc 60 đàn lợn nái ngoại nuôi tại khu chuồng đẻ của trại Nguyễn Thanh Lịch trong thời gian thực tập. Toàn bộ lợn thí nghiệm được bấm số tai, nuôi trên chuồng sàn, hưởng cùng điều kiện vi khí hậu (nhiệt độ duy trì 28 - 30°C nhờ hệ thống giàn mát và quạt hút, lồng úm sưởi bằng đèn hồng ngoại 175W hoặc tấm sưởi) và quy trình dinh dưỡng công nghiệp của C.P. Việt Nam.
  • Phương pháp theo dõi dịch tễ và lâm sàng: Giám sát đàn lợn 2 lần/ngày (7h30 sáng và 14h30 chiều). Ghi nhận các chỉ tiêu: tỷ lệ mắc bệnh, lứa tuổi mắc bệnh (sơ sinh - 7 ngày, 8 - 14 ngày, 15 - 21 ngày), triệu chứng lâm sàng (trạng thái phân từ vàng nhão sang trắng loãng, phân dính bết hậu môn, mắt trũng sâu, sút cân), bệnh tích mổ khám các ca chết.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm điều trị: Phân lô điều trị trên 453 lợn con mắc bệnh theo sơ đồ:
    • Phác đồ 1 (226 con): Tiêm bắp Nova-Amcoli liều 1 ml/10 kg thể trọng/ngày (dùng liên tục 3 - 5 ngày) kết hợp cho uống Oresol liều 500 mg/kg thể trọng để bù nước và điện giải.
    • Phác đồ 2 (227 con): Tiêm bắp Nor 100 liều 1 ml/10 kg thể trọng/ngày (dùng liên tục 3 - 5 ngày) kết hợp cho uống Oresol liều 500 mg/kg thể trọng.
    • Theo dõi hiệu lực điều trị: Đánh giá tỷ lệ khỏi bệnh sau 4 ngày điều trị và theo dõi tỷ lệ tái phát trong 4 ngày tiếp theo (kiểm tra định kỳ 1 lần/ngày).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán tỷ lệ phần trăm (%), thời gian điều trị trung bình theo phương pháp thống kê sinh vật học thú y của Nguyễn Văn Thiện và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Bố cục của văn bản khóa luận được tổ chức thành 4 phần chính cùng các đề mục kết luận:

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu nêu rõ tầm quan trọng của việc kiểm soát dịch bệnh đường ruột trong quy trình chăn nuôi lợn công nghiệp khép kín. Tác giả phân tích tính cấp thiết của việc tìm kiếm các phác đồ điều trị hiệu quả, an toàn nhằm hạn chế tình trạng vi khuẩn lờn thuốc và giảm thiểu tỷ lệ chết, còi cọc ở lợn sơ sinh. Trên cơ sở đó, tác giả xác định rõ 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, chỉ ra ý nghĩa khoa học trong việc tích lũy dữ liệu bệnh lý thực địa và ý nghĩa thực tiễn phục vụ trực tiếp đàn lợn của trại Nguyễn Thanh Lịch.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Nội dung phần này cung cấp bức tranh chi tiết về cơ sở thực tập và hệ thống tri thức lý thuyết liên quan:

  • Điều kiện cơ sở thực tập: Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch được đầu tư 18 tỷ đồng từ năm 2010 tại Ba Trại, Ba Vì. Tại thời điểm tháng 5/2016, trại nuôi giữ 1.167 lợn nái sinh sản, 360 nái hậu bị, 19 đực khai thác và 4 đực hậu bị; hàng năm cung ứng khoảng 20.000 lợn con cai sữa (18 - 21 ngày tuổi). Trại vận hành quy trình "cùng vào - cùng ra", cách ly chuồng tối thiểu 5 ngày sau khi tẩy uế bằng Fam flus và Vikon S; trang bị giàn mát, quạt hút gió và lồng úm sưởi điện. Lịch phòng bệnh bằng vắc-xin và hóa dược được chuẩn hóa nghiêm ngặt: tiêm sắt Nova Fer (ngày 1 - 3), vắc-xin Myco-Pac phòng viêm phổi (ngày 10 và 25), vắc-xin HC-Vac phòng dịch tả (ngày 21 và 45), kết hợp lịch tiêm định kỳ các vắc-xin PRRS, AD, FMD cho đàn nái và đực giống.
  • Cơ sở khoa học về hội chứng tiêu chảy: Phân tích chuyên sâu về sinh lý tiêu hóa, cơ chế điều nhiệt và miễn dịch non nớt của lợn con. Tổng hợp nguyên nhân đa yếu tố gây bệnh bao gồm vi khuẩn (E. coli sinh độc tố đường ruột LT, ST; Salmonella), virus (TGE, PED, Rotavirus), ký sinh trùng (cầu trùng, giun sán) và các yếu tố môi trường (ẩm độ cao >90%, lạnh đột ngột, thức ăn cám 550SF tập ăn sớm).
  • Tổng quan tình hình nghiên cứu: Trích dẫn các công trình nghiên cứu trong nước (Đào Trọng Đạt, Nguyễn Bá Hiên, Đặng Xuân Bình, Đỗ Ngọc Thúy, Đoàn Thị Kim Dung) và quốc tế (Smith Halls, Mouwen, Akita) về tỷ lệ phân lập mầm bệnh đường ruột, độc lực kháng nguyên bám dính và hiệu lực của các kháng sinh, chế phẩm sinh học. Đồng thời giới thiệu chi tiết cấu trúc hóa học, dược động học và cơ chế diệt khuẩn của Ampicillin và Norfloxacin.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết quy trình thực nghiệm và thao tác kỹ thuật tại trại:

  • Trình bày quy trình kỹ thuật đỡ đẻ và chăm sóc sơ sinh: sát trùng dụng cụ đỡ đẻ, lau sạch dịch nhầy mũi miệng, buộc rốn cách bụng 3 - 5 cm và cắt rốn, cho bú sữa đầu kịp thời; bấm nanh, cắt đuôi, tiêm 2 ml Nova Fer lúc 1 ngày tuổi; uống thuốc phòng cầu trùng lúc 3 - 4 ngày tuổi; thiến lợn đực lúc 5 - 7 ngày tuổi; tập ăn cám 550SF từ 4 - 6 ngày tuổi; tiêm phòng Mycoplasma (10 - 14 ngày tuổi) và dịch tả lợn (14 - 18 ngày tuổi); cai sữa lúc 18 - 21 ngày tuổi.
  • Mô tả chi tiết sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị so sánh 2 phác đồ Nova-Amcoli và Nor 100 trên 453 lợn bệnh, quy định liều dùng, đường cấp thuốc (tiêm bắp kết hợp uống Oresol) và các công thức toán học xác định tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết, tỷ lệ khỏi và tỷ lệ tái phát.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tác giả chia kết quả thành hai mảng chính:

  • Kết quả công tác phục vụ sản xuất: Tác giả trực tiếp tham gia và hoàn thành khối lượng lớn công việc thú y tại trại với tỷ lệ an toàn cao: tiêm vắc-xin Mycoplasma (2.500 lợn con, an toàn 100%), dịch tả (2.500 lợn con, an toàn 100%), cho uống thuốc phòng cầu trùng (3.260 con, an toàn 99,78%); tiêm vắc-xin cho nái (dịch tả, LMLM, giả dại, khô thai, tai xanh) đạt 100% an toàn; điều trị khỏi bệnh viêm tử cung ở lợn nái (563/568 con, đạt 99,11%), viêm phổi lợn (34/38 con, đạt 89,47%), tiêu chảy chung (438/453 con, đạt 96,69%); hỗ trợ đỡ đẻ 763 nái (an toàn 99,86%), thiến lợn đực 2.693 con (100%), phẫu thuật thoát vị hecni 60 con (khỏi 58 con, đạt 96,66%).
  • Kết quả chuyên đề về hội chứng tiêu chảy:
    • Tỷ lệ mắc bệnh chung theo cá thể: Điều tra 60 đàn với 654 lợn con theo mẹ, ghi nhận 453 con mắc tiêu chảy, chiếm tỷ lệ 69,26%.
    • Tỷ lệ mắc theo lứa tuổi: Bệnh tập trung cao nhất ở giai đoạn sơ sinh đến 7 ngày tuổi với 415 con mắc (tỷ lệ 63,45% tổng đàn theo dõi); giai đoạn 8 - 14 ngày tuổi có 27 con mắc (4,12%); giai đoạn 15 - 21 ngày tuổi giảm xuống còn 11 con mắc (1,68%).
    • Phân tích nguyên nhân: Giai đoạn sơ sinh - 7 ngày tuổi mắc cao do lượng kháng thể trong sữa mẹ suy giảm mạnh từ ngày thứ 5 trở đi trong khi hệ thống miễn dịch tự thân của lợn con chưa hoàn thiện; lợn con bắt đầu tập ăn cám 550SF từ ngày 4 - 6 khi hệ enzym đường ruột chưa thích ứng; lợn hoạt động nhiều liếm láp chất bẩn; các yếu tố bất lợi về nhiệt độ chuồng úm và ẩm độ sàn chuồng. Ở các tuần tuổi sau (8 - 21 ngày), lợn đã thích nghi dần với môi trường, phát triển men tiêu hóa và được bảo vệ một phần nhờ thức ăn tập ăn có bổ sung amoxycillin (300 mg/kg) và colistin (200 mg/kg).

Kết quả và đóng góp

Bảng số liệu tổng hợp từ khóa luận

Dưới đây là các bảng số liệu trích xuất trực tiếp từ kết quả nghiên cứu và công tác thực địa của tác giả tại trang trại:

Bảng 1: Kết quả khảo sát tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo lứa tuổi (Trích xuất từ Bảng 4.2 và Bảng 4.3 trong khóa luận)

Lứa tuổi theo dõi (ngày) Số đàn khảo sát Số lợn con theo dõi (con) Số lợn con mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc bệnh (%)
Sơ sinh – 7 ngày tuổi 60 654 415 63,45
8 – 14 ngày tuổi 60 654 27 4,12
15 – 21 ngày tuổi 60 654 11 1,68
Tính chung (1 – 21 ngày) 60 654 453 69,26

Bảng 2: Kết quả thực hiện công tác kỹ thuật và phục vụ sản xuất tại trang trại (Trích xuất từ Bảng 4.1 trong khóa luận)

STT Nội dung công việc Số lượng thực hiện (con) Số lượng an toàn / khỏi (con) Tỷ lệ đạt (%)
1 Tiêm phòng vắc-xin cho lợn con
Mycoplasma 2.500 2.500 100,00
Dịch tả lợn 2.500 2.500 100,00
Phòng cầu trùng (cho uống) 3.260 3.253 99,78
2 Tiêm phòng vắc-xin cho lợn nái
Dịch tả lợn 120 120 100,00
Lở mồm long móng (FMD) 130 130 100,00
Bệnh giả dại (AD) 90 90 100,00
Hội chứng khô thai (Parvo) 93 93 100,00
Bệnh tai xanh (PRRS) 215 215 100,00
3 Điều trị bệnh lâm sàng
Bệnh viêm tử cung lợn nái 568 563 99,11
Bệnh viêm phổi lợn 38 34 89,47
Hội chứng tiêu chảy lợn con 453 438 96,69
4 Thao tác kỹ thuật ngoại khoa & chăm sóc
Đỡ đẻ cho lợn nái 763 762 99,86
Tiêm Nova-Fer, mài nanh, bấm tai, cắt đuôi 3.589 3.589 100,00
Thiến lợn đực giống thương phẩm 2.693 2.693 100,00
Phẫu thuật thoát vị hecni 60 58 96,66
Xuất bán lợn con cai sữa 2.500 2.500 100,00

Đóng góp và đề xuất của tác giả

  • Đóng góp về mặt nhận thức dịch tễ: Khóa luận xác định rõ tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con giai đoạn 1 - 21 ngày tuổi tại trại Nguyễn Thanh Lịch ở mức cao (69,26%), đồng thời chỉ ra quy luật phân bố dịch tễ tập trung cao nhất vào tuần đầu tiên sau khi sinh (63,45%). Kết quả này cung cấp cơ sở thực chứng để trang trại điều chỉnh trọng tâm giám sát dịch bệnh vào giai đoạn sơ sinh.
  • Biện pháp kỹ thuật đề xuất: Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc can thiệp tổng hợp: giữ ấm ô chuồng bằng đèn hồng ngoại/tấm sưởi, đảm bảo lợn con bú đủ sữa đầu ngay sau khi sinh để nhận kháng thể, giữ chuồng khô ráo (ẩm độ không vượt quá ngưỡng bất lợi), tiêm sắt sớm lúc 1 ngày tuổi và kiểm soát chất lượng cám tập ăn khi cho ăn từ ngày thứ 4 - 6.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian thực tập cố định từ tháng 11/2015 đến tháng 5/2016, chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ thời tiết 12 tháng trong năm. Khảo sát dịch tễ dừng lại ở quy mô 60 đàn (654 lợn con), chỉ chiếm một phần trong tổng quy mô hơn 1.100 nái của trang trại. Việc xác định hội chứng tiêu chảy chủ yếu dựa trên chẩn đoán triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể, chưa thực hiện nuôi cấy phân lập vi khuẩn chuyên sâu và làm kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm cho từng chủng gây bệnh tại trại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả đề nghị tiếp tục theo dõi diễn biến dịch tễ học của hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con qua các mùa khác nhau trong năm tại cơ sở; tiến hành lấy mẫu phân lập, định danh các loài vi khuẩn đường ruột (E. coli, Salmonella, Clostridium) và kiểm tra độ mẫn cảm kháng sinh định kỳ để kịp thời cập nhật phác đồ điều trị phù hợp trước nguy cơ kháng thuốc ngày càng tăng.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng và hoạt động chuyên môn sau:

  • Sinh viên ngành Chăn nuôi, Thú y, Chăn nuôi - Thú y: Tài liệu cung cấp quy trình thực tế về kỹ thuật đỡ đẻ, chăm sóc lợn sơ sinh (cắt rốn, mài nanh, cắt đuôi, tiêm sắt), quy trình vận hành chuồng nái đẻ công nghiệp, cũng như phương pháp bố trí thí nghiệm điều trị lâm sàng tại trang trại.
  • Kỹ thuật viên thú y và người quản lý trang trại lợn sinh sản: Phần lịch sát trùng chuồng trại theo ngày trong tuần, quy trình sử dụng vắc-xin cho lợn con và đàn nái ngoại, cùng phác đồ can thiệp điều trị viêm tử cung (Vetrimoxin, Oxytocin, thụt rửa Penicillin + Streptomycin) và tiêu chảy kết hợp Oresol là những kinh nghiệm thực tiễn có thể ứng dụng trực tiếp tại các cơ sở chăn nuôi quy mô tương tự.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy trong giai đoạn từ 1 đến 21 ngày tuổi tại trại Nguyễn Thanh Lịch là bao nhiêu? Trong tổng số 654 lợn con được theo dõi từ 60 đàn nái ngoại tại trang trại, có 453 con mắc hội chứng tiêu chảy, tương ứng với tỷ lệ mắc bệnh là 69,26%.

2. Lứa tuổi nào lợn con có tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy cao nhất và vì sao? Lợn con ở giai đoạn từ sơ sinh đến 7 ngày tuổi mắc bệnh cao nhất với 415 con (chiếm tỷ lệ 63,45% tổng đàn khảo sát). Nguyên nhân do lượng kháng thể mẹ truyền qua sữa đầu giảm nhanh từ ngày thứ 5 trở đi trong khi hệ miễn dịch chủ động chưa phát triển; lợn con bắt đầu tiếp xúc với cám tập ăn (550SF) khi bộ máy tiêu hóa thiếu men và axit HCl tự do; cùng với các yếu tố bất lợi về nhiệt độ lồng úm hoặc nền chuồng ẩm ướt.

3. Khóa luận đã thử nghiệm những phác đồ nào để điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con? Tác giả thử nghiệm 2 phác đồ trên 453 lợn con mắc bệnh:

  • Phác đồ 1 (226 con): Tiêm bắp kháng sinh Nova-Amcoli (hoạt chất Ampicillin 10 mg/ml) liều 1 ml/10 kg thể trọng/ngày, kết hợp cho uống Oresol liều 500 mg/kg thể trọng.
  • Phác đồ 2 (227 con): Tiêm bắp kháng sinh Nor 100 (hoạt chất Norfloxacin 10%) liều 1 ml/10 kg thể trọng/ngày, kết hợp cho uống Oresol liều 500 mg/kg thể trọng.

4. Quy trình vệ sinh phòng bệnh chuồng nái đẻ tại trại Nguyễn Thanh Lịch được quy định như thế nào? Trại áp dụng nguyên tắc "cùng vào - cùng ra". Sau mỗi lứa xuất lợn, ô chuồng được rửa sạch, phun thuốc sát trùng (Fam flus, Vikon S) và để trống chuồng tối thiểu 5 ngày mới đưa lợn nái chờ đẻ lên. Trong tuần, chuồng đẻ được phun sát trùng cố định vào thứ 3 và thứ 6, quét/rắc vôi bột đường đi vào thứ 2, rắc vôi gầm vào thứ 4, phun thuốc trừ ghẻ vào thứ 5 và tổng vệ sinh vào thứ 7; tuyệt đối không tắm nước cho lợn con để tránh lạnh.

5. Kết quả thực hiện các công tác kỹ thuật chăn nuôi và thú y khác của tác giả tại trang trại đạt tỷ lệ như thế nào? Bên cạnh chuyên đề tiêu chảy, tác giả đã hoàn thành tiêm vắc-xin Mycoplasma và Dịch tả lợn cho 2.500 lợn con (đạt 100% an toàn); điều trị khỏi 563/568 lợn nái viêm tử cung (đạt 99,11%); điều trị khỏi 34/38 lợn viêm phổi (đạt 89,47%); can thiệp đỡ đẻ an toàn cho 762/763 lợn nái (đạt 99,86%); thực hiện bấm nanh, cắt đuôi, tiêm sắt cho 3.589 lợn con và thiến 2.693 lợn đực với tỷ lệ thành công 100%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Công Quỳnh đã phản ánh thực trạng dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi công nghiệp Nguyễn Thanh Lịch (Ba Vì, Hà Nội) với tỷ lệ mắc ghi nhận ở mức 69,26%, trong đó bệnh tập trung chủ yếu ở tuần tuổi đầu tiên (63,45%). Đề tài đã hệ thống hóa các quy trình chăm sóc, vệ sinh phòng dịch, tiêm phòng vắc-xin và thiết kế thử nghiệm phác đồ điều trị kết hợp giữa kháng sinh (Nova-Amcoli, Nor 100) và bù nước điện giải Oresol. Kết quả nghiên cứu và thực tế phục vụ sản xuất cung cấp nguồn tư liệu thực địa có giá trị khoa học và thực tiễn, hỗ trợ đắc lực cho công tác kiểm soát dịch bệnh đường ruột trên đàn lợn con tại các trang trại chăn nuôi quy mô tập trung.