Đặt vấn đề Trong những năm gần đây cùng với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, ngành chăn nuôi thú y ở nước ta cũng đang từng bước phát triển nhằm đem lại nhiều sản phẩm có chất lượng cho xã hội và đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Ngành chăn nuôi thú y nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng là một nghề đã có truyền thống lâu đời và có nhiều kinh nghiệm quí báu đã được tích lũy, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngành chăn nuôi lợn đã góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn hằng ngày, tăng dinh dưỡng cho con người và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm, phân bón cây trồng. Ngày nay chăn nuôi lợn không chỉ đáp ứng nhu cầu thịt trong nước, mà còn tham gia xuất khẩu.
Tuy nhiên với số lượng đàn nuôi ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục từ các yếu tố khác như: thời tiết, khí hậu, nguồn nước, không khí. nên vấn đề dịch bệnh có những biến đổi khó lường, đặc biệt quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ở giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sinh trưởng của lợn sau này. Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, cùng với việc sử dụng vắc xin phòng bệnh và sử dụng các loại kháng sinh để điều trị bệnh một cách kịp thời và hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của BCN khoa, giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại Ngô Thị Hồng Gấm – Huyện Hiệp Hòa – Tỉnh Bắc Giang” 1.
Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1.1 Mục đích - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Ngô Thị Hồng Gấm - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại. h 2 - Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại.2 Yêu cầu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại Ngô Thị Hồng Gấm – Huyện Hiệp Hòa – Tỉnh Bắc Giang. - Áp dụng được các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại đạt hiệu quả cao. - Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại.
h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện của trang trại 2. Vị trí địa lý - Trại Ngô Thị Hồng Gấm thuộc huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là trại gia công của công ty cổ phần CP Việt Nam trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấm làm chủ.
Vị trí địa lý của huyện được xác định như sau: + Phía Đông giáp với huyện Tân Yên Hiệp Hòa là một huyện trung du thuộc tỉnh Bắc Giang, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bắc Giang. Huyện lỵ là thị trấn Thắng cách thành phố Bắc Giang 30 km và cách thủ đô Hà Nội 50 km theo đường bộ. + Phía Đông Bắc giáp huyện Tân Yên. + Phía Đông giáp huyện Việt Yên.
+ Phía Nam giáp vùng đồng bằng châu thổ Yên Phong của tỉnh Bắc Ninh. + Phía Tây Nam giáp huyện Sóc Sơn của Hà Nội. + Phía Tây Bắc giáp các thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình của tỉnh Thái Nguyên + Huyện chia thành 26 đơn vị hành chính. Dân số huyện Hiệp Hòa là 213.002 người, tổng diện tích tự nhiên là 201 km2 2.
Đặc điểm khí hậu - Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm. - Nhiệt độ trung bình 23- 240C, lượng mưa trung bình mỗi năm 1. - Nhiệt lượng bức xạ mặt trời khá lớn khoảng 1.765 giờ nắng một năm. Kinh tế xã hội - Huyện Hiệp Hòa chủ yếu sản xuất lương thực, rau màu, chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi trồng thủy sản.
Nhờ hệ thống mương máng người dân có thể trồng hai vụ lúa và một vụ hoa màu trong một năm.Trong những năm gần đây Hiệp Hòa đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, xây dựng các cụm công nghiệp nhằm thu hút đầu tư, nâng cấp hệ thống chợ nông thôn để phát triển thương mại. -Năm 2008 giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng trên địa bàn huyện đạt 200 triệu USD, tăng 56,5% so với năm 2007. Sản lượng may mặc, bia hơi, khai thác cát sỏi, gạch đều vượt kế hoạch từ 9-10%. Hiện huyện đã quy hoạch được 7 cụm công nghiệp, trong đó có 4 cụm đã được đưa vào sử dụng với tổng diện tích 124,5 ha.
Năm 2008 toàn huyện đã thu hút 6 dự án đầu tư lớn với tổng vốn đăng ký hàng trăm tỷ đồng. -Điện lưới : Tính đến năm 2003 điện lưới quốc gia đã đến tất cả các xã, mọi hộ gia đình được sử dụng điện. Toàn huyện hiện có 124 máy biến áp. Điện lưới ở Hiệp Hòa rất hay bị cắt, từ năm 2008 đến nay điện thường bị cắt đúng lúc dân cần điện sinh hoạt từ 17h đến 20h30, nhất là vào tháng 5, 6 - lúc các học sinh chuẩn bị ôn thi tốt nghiệp và đại học.
-Thông tin : Đường dây điện thoại cố định đã tới tất cả các thôn xóm trong huyện, mỗi gia đình đều có vô tuyến. Điện thoại di động được dùng rất phổ biến trong người dân. Tại trung tâm các xã đều có cơ sở bưu điện và Nhà văn hóa xã. -Nước sinh hoạt: Dân cư chủ yếu dùng nước sinh hoạt từ giếng đào còn một phần từ sông và nước mưa.
Nước giếng vùng đồi núi của Hiệp Hòa nổi tiếng trong và mát. Khoảng trên 70% dân cư có nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Khu vực thị trấn được dùng nước máy. h 5 -Y tế: Toàn huyện có một bệnh viện lớn, các xã đều có trạm y tế xã, các thôn đều có y tá chăm sóc sức khỏe cho người dân.
Ngoài ra còn có các phòng khám tư nhân 2. Cơ cấu tổ chức của trang trại -Trại có đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật giỏi giàu kinh nhiệm thực tế, có ban lãnh đạo nhiệt tình giàu năng lưc. Hơn nữa trại có đội ngũ công nhân yêu nghề và nhiều năm kinh nghiệm trong nghề. -Trại có 11 cán bộ nhân viên trong đó: +1 quản lý chịu trách nhiệm quản lý thu chi và nhân sự ở trại +1 kỹ sư điều hành sản xuất +1 kỹ thuật chuồng đẻ +6 công nhân +1 cấp dưỡng +1 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản của trại 2.
Cơ sở vật chất của trang trại - Hệ thống chuồng trại Hệ thống chuồng trại được xây dưng trên nền đất cao dễ thoát nước được bố trí tách biệt với khu hành chính và hộ gia đình, được xây dựng theo hướng Đông Nam -Tây Bắc, đảm bảo thoáng mát về mùa hề ấm áp về mùa đông, xung quanh khu sản xuất có hàng rào bao bọc, có cổng ra vào riêng. Trại có tổng diện tích là 16. Trang trại được xây dựng với quy mô phù hợp theo hướng kiểu chăn nuôi công nghiệp. -Trại gồm có: + 3 chuồng đẻ + 1 chuồng bầu + 1 chuồng cách ly + 1 chuồng cai sữa h 6 -Hệ thống chuồng lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái chờ phối và nái chửa.
Chuồng lồng nền sàn nhựa cho lợn nái đẻ và lợn con, lợn sau cai sữa và hệ thống nước uống tự động. Chuồng được che chắn kín đáo có hệ thống quạt thông gió và đàn mát đảm bảo sự thông thoáng về mùa hè ấm áp về mùa đông,có tường bao quanh để ngăn chặn dịch từ ngoài vào. Nền chuồng được xây nghiêng và có hệ thống thoát phân và nước thải. Hệ thống nước sạch được đưa vào các ô chuồng và nước phụ vụ tắm lợn, xịt chuồng hằng ngày.
- Các công trình khác + Gần khu chuồng trại có xây dựng nhà ăn nghỉ trưa, một nhà kho chứa đồ, một kho cám, một nhà sát trùng, khu chứa vôi. Ngoài ra còn có khó cơ khí chứa dụng cụ để sửa chữa hay thay thế hay thiết bị đã hỏng. Kho thuốc chưa đầy đủ các trang thiết bị dụng cụ thú y như dao mổ,panh, kim tiêm, xi lanh, kìm bấm tài, kéo cắt đuôi, máy mài nanh, sát trùng và mốt số thú y khác. Trại còn xây dựng một phòng tinh để pha tinh và theo dõi một số chỉ tiêu hoạt lực của tinh trùng.
+ Bên cạnh còn xây dựng 3 giếng khoan và các bể chứa nước sạch để phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất, 2 bể biogas. Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm sinh lý của lợn con - Cơ năng điều tiết thân nhiệt + Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ thường bị giảm xuống, quá trình giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khối lượng sơ sinh, chất dinh dưỡng thu được sau khi sinh, nhiệt độ của môi trường.
+ Theo Trương Lăng, (2000) [8] sau khi đẻ 1 giờ nếu lợn con được bú sữa đầu thì 8 - 12 giờ sau thân nhiệt sẽ ổn định, nếu sau 4 giờ mới được bú sữa đầu thì sau 18 - 24 giờ thân nhiệt mới đạt mức bình thường. Như vậy quy h 7 định không quá 2 giờ nếu lợn mẹ chưa đẻ xong phải cho những lợn con đã sinh bú sữa đầu. Lợn con rất mẫn cảm với nhiệt độ vì khi ra khỏi cơ thể mẹ lợn con chưa thể thích ứng được với môi trường bên ngoài, cơ quan điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh. Khả năng tự điều hòa thân nhiệt của lợn con tăng chậm từ khi mới sinh cho đến 2 tuần tuổi, do vậy trong 2 tuần tuổi chúng rất dễ mẫn cảm với thay đổi lớn của nhiệt độ bên ngoài.
Mỗi loài gia súc, đều có một giới hạn sinh thái về nhiệt độ và ẩm độ nhất định, độ ẩm không khí trong chuồng nuôi cao là điều bất lợi cho lợn con, bởi vì độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển, ngoài ra độ ẩm càng cao thì nhiệt độ trong chuồng càng giảm. Cho nên việc quản lý độ ẩm và nhiệt độ trong chuồng nuôi phù hợp với mọi lứa tuổi của lợn và nhiệt độ trong chuồng nuôi được ổn định là rất quan trọng. + Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [9] trên nền cứng hoặc sàn thưa không có độn khu vực cho lợn con mới sinh cần giữ ấm ở 32 - 35°C trong tuần đầu, sau đó giữ 21 - 27°C cho đến lúc cai sữa 3 - 6 tuần tuổi.