Đặt vấn đề Chăn nuôi gia cầm là ngành đứng hai sau chăn nuôi lợn về cung cấp thực phẩm cho con người (Niên giám thống kê 2016). Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta có những bước tiến vượt bậc sánh vai các quốc gia khác trong khu vực. Theo thống kê đến tháng 10 năm 2018, đàn gia cầm của chung ta đã đạt mức 409 triệu con. Ngành chăn nuôi gia cầm có được những kết quả đó là nhờ chính sách hỗ trợ của Nhà nước, cũng như áp dụng những tiến bộ trong công tác giống, chế biến thức ăn, công tác thú y và chăm sóc nuôi dưỡng vào sản xuất.
Tuy tốc độ tăng đàn trung bình 5%/năm song cơ cấu đàn gần như không thay đổi, gà địa phương và gà lông màu vẫn chiếm khoảng 68% tổng đàn. Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa thì ngành nông nghiệp của chúng ta gặp khó khăn là điều khó tránh khỏi như áp lực về giá thành sản phẩm, yêu cầu chất lượng. yêu cầu người chăn nuôi phải thay đổi tư duy nhằm tăng giá trị sản phẩm, giảm giá thành. Khác hẳn với các ngành chăn nuôi khác, ngành chăn nuôi gà của nước ta luôn được thị trường nội địa ưu ái nhờ những đặc trưng chỉ có ở sản phẩm nội địa, cụ thể là chất lượng, màu sắc và mùi vị của thịt gà.
Với thị hiếu tiêu dùng của người Việt là sử dụng thịt gà lông màu có độ dai vừa phải, da màu vàng, khối lượng không quá to, thời gian nuôi phải trên 90 ngày, nên đây là lý do lý giải cho tỷ lệ gà địa phương và gà lông màu chiểm tỷ lệ cao trong tổng đàn. Gà lông màu phát triển rộng khắp trong cả nước, đáp ứng hầu hết nhu cầu về thịt gà trong các bữa ăn hàng ngày và các bữa tiệc hoặc các dịp lễ, tết. Đây là những giống gà địa phương hoặc con lai của chúng với các giống gà lông màu nhập nội. Chúng đáp ứng được các yêu cầu của người chăn nuôi h 2 như khả năng đề kháng, mức độ đầu tư.
cũng như yêu cầu của người tiêu dùng. Nắm bắt được thị hiếu người chăn nuôi về nhu cầu giống gà thả vườn nên các cơ sở giống đã sử dụng mái nhập nội cho lai với trống địa phương để hội tụ tất cả các ưu điểm của cả hai bên bố mẹ chúng ở thế hệ con lai. Đi song hành cùng ngành chăn nuôi là ngành công nghiệp thuốc thú y. Đây là cơ sở giúp bảo vệ sức khỏe vật nuôi trong điều kiện chăn nuôi thâm canh cao.
Có thể nói là mới chỉ được hình thành trong khoảng hơn một thập niên trở lại đây, nhưng đã góp phần quan trọng đối với sự phát triển khá nhanh chóng của ngành chăn nuôi trong cả nước. Thuốc thú y tuy chỉ chiếm khoảng 4% trong tổng chi phí chăn nuôi, nhưng lại rất cần thiết giúp bảo vệ vật nuôi, và có vai trò quyết định cho sự thành bại của nghề. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh. Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm.
Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với một số bệnh như: H5N1 (virus cúm), Newcastle (Newcastle disease), CRD (Mycoplasma gallisepticum), Gumboro (lnfectious bursal disease), E. Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà, gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp. Mỗi loại gà mang những đặc trưng riêng biệt nhưng quy trình, kỹ thuật chăn nuôi cũng như phương pháp phòng điều trị bệnh gần như giống nhau. Việc nâng cao năng suất chăn nuôi không chỉ phụ thuộc ở kỹ thuật chăn nuôi gà mà còn ở cách biết phòng và điều trị bệnh hiệu quả.
Từ nhu cầu thực tế, nhiều công ty đã cho ra đời nhiều loại thuốc thú y, vắc xin, chế phẩm sinh học nhằm đẩy lùi dịch bệnh. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng, chẩn h 3 đoán và điều trị bệnh cho đàn gà tại trại gà Quân Thịnh, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề. Mục đích - Tìm hiểu quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt.
- Biết và thực hiện đúng lịch phòng bệnh trên gà thịt. - Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại trại Quân Thịnh, xã Minh Lập huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. - Đưa ra phác đồ điều trị bệnh cho gà thịt. Yêu cầu - Nắm được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt.
- Biết cách phòng bệnh cho gà thịt. - Biết được cách chẩn đoán và điều trị bệnh cho gà thịt. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Giới thiệu về huyện Đồng Hỷ 2. Vị trí địa lý Địa giới tự nhiên phân cách Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên là dòng sông Cầu uốn lượn quanh co từ xã Cao Ngạn theo hướng Bắc - Nam xuống đến đập Thác Huống (xã Huống Thượng). Đồng Hỷ giáp huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn ở phía Bắc; huyện Võ Nhai về phía Đông Bắc; giáp huyện Phú Lương về phía Tây; giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình về phía Nam và giáp huyện Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Giang về phía Đông. Huyện Đồng Hỷ có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 2 thị trấn: Trại Cau, Sông Cầu và 13 xã: Cây Thị, Hóa Thượng, Hóa Trung, Hòa Bình, Hợp Tiến, Khe Mo, Minh Lập, Nam Hòa, Quang Sơn, Tân Lợi, Tân Long, Văn Hán, Văn Lăng.
Điều kiện tự nhiên Đồng Hỷ là một huyện miền núi phía đông bắc tỉnh Thái Nguyên.73 km², dân số 100.336 người (tháng 9/2019), có trụ sở Quân khu I đóng trên địa bàn. Đồng Hỷ có tổng diện tích tự nhiên 520,59km2. Trong đó đất lâm nghiệp chiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các công trình công cộng 3,2% và đất chưa sử dụng chiếm 25,7%. Núi Chùa Hang còn gọi là núi đá Hoá Trung, núi Long Tuyền, tại thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay.
Chùa Hang là một trong những danh thắng nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên. h 5 Đồng Hỷ có vàng sa khoáng ở khu vực khu vực Ngàn Me, Cây Thị; cụm mỏ sắt Trại Cau (trữ lượng khoảng 20 triệu tấn) và mỏ Linh Sơn (trữ lượng từ 1-3 triệu tấn). Ngoài ra, Đồng Hỷ còn có nhiều khoáng sản như: đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi, đá Carbuat, Dolomit. Khí hậu Đồng Hỷ mang tính chất nhiệt đới gió mùa, hàng năm chia làm 2 mùa nóng, lạnh rõ rệt.
Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, mưa nhiều; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mưa ít; độ ẩm trung bình các tháng từ 79% đến 98,3%. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 2.500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Nhiệt độ trung bình là 22°C. Số giờ nắng trong năm từ 1.750 giờ, lượng bức xạ khoảng 115 Kcal/cm2.
Hướng gió chủ yếu là Đông Bắc (các tháng 1, 2, 3, 10, 11, 12) và Đông Nam (các tháng còn lại). Khí hậu Đồng Hỷ tương đối thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm và chăn nuôi gia cầm. Cơ cấu tổ chức của trại - Cơ sở vật chất của trang trại nuôi gà: + Diện tích chuồng trại là 900m2 (2 chuồng). + Chuồng 1 có chiều dài 30 m, chiều rộng 10 m và chuồng 2 dài 60 m, rộng 10 m.
+ Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây tường rào bao quanh và lắp 8 camera theo dõi quanh khu vực trại. - Cơ sở vật chất của quầy thuốc thú y: + Diện thích cửa hàng thuốc là 50m2. + Có đủ tủ kính và các giá kệ để bày hàng, bán hàng, hàng hóa được sắp xếp khoa học, giữ gìn sạch sẽ. + Có tủ lạnh để bảo quản vắc xin, chế phẩm sinh học.
- Đội ngũ cán bộ quản lí kỹ thuật, công nhân gồm: + 01 quản lí. + 02 sinh viên thực tập. + 01 chủ trang trại. - Trong quá trình thực tập tại cơ sở, em được trại tạo điều kiện cho chỗ ở và sinh hoạt theo gia đình chủ trại.
Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm sinh lí tiêu hóa của gà * Tiêu hóa ở miệng Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ. Vịt, ngỗng có các răng ngang ở mép nhỏ chứa nhiều tận cùng dây thần kinh lâm ba, có tác dụng cảm giác.
Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt là dịch nhầy. Trong nước bọt có chứa một số ít men Amilaza nên có ít tác dụng tiêu hóa. Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản. Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt.
*Tiêu hóa ở diều Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực. Diều dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn, thức ăn ở diều được thấm ướt, mềm ra trộn kĩ với một phần tinh bột được thủy phân. *Tiêu hóa ở dạ dày Tiêu hóa ở dạ dày tuyến dạ dày tuyến giống như cái bao túi, gồm 3 lớp: Màng nhầy, màng cơ, màng thanh dịch. Màng nhầy rất phát triển.
Ở đây các h 7 tuyến tiết ra pepsin và axit muối. Vì vậy tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH 3,1 – 4,5. Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohydric, enzim và musin. Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric.
Các tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày. Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên. *Tiêu hóa ở dạ dày cơ Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau có thành rất dày, có màu đỏ sẫm. Dạ dày cơ nằm ở bên trái của gan.