Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, chăn nuôi đã trở thành một ngành sản xuất chính trong sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng vào sản xuất kinh tế xã hội, trong đó có chăn nuôi dê. Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, tổng số đàn dê tại thời điểm 01/10/2017 là 2.368 con tăng 26,49% so với cùng thời điểm năm 2016. Sản lượng thịt dê hơi tại thời điểm 01/10/2017 là 26.259,3 tấn, tăng 24,20% so với cùng thời kỳ năm 2016 [15]. Tỉnh Thái Nguyên là địa phương có số lượng đàn dê phát triển.
Có địa hình đa dạng, có núi Rồng chạy dọc một số xã của huyện. Trên đỉnh núi có nhiều bãi phẳng cây cỏ xanh tốt, tiếng Tày gọi là “Chúng” có thể chăn nuôi dê, trồng ngô, dựng nhà… Loài dê núi (Sơn Dương), theo truyền thuyết của người dân địa phương vốn là tổ tiên của loài dê địa phương (hiện nay nhiều khi thợ săn vẫn săn bắn được) đã sản sinh ra loài dê mà dân địa phương gọi từ lâu đời như dê Nản ở Định Hóa. Chúng thường leo trèo kiếm ăn tận sườn núi, bám cả vào vách đá, hẻm núi, đồi thấp, nơi đang có nhiều cây thuốc và cả các loại cây xanh nên dê núi không chỉ cho thực phẩm ngon, mà sức sống cao, sức chống bệnh tốt. Hiện nay, hầu như tất cả các đàn dê của Thái Nguyên đều chăn thả ở dãy núi sườn đồi, chuồng trại làm ở chân núi cho nên đây được coi là những vùng chăn nuôi dê đặc sản như Định Hoá, Võ Nhai, Phú Lương, Đại Từ,.
Một số đặc điểm cơ bản của dê nuôi tại Thái Nguyên qua khảo sát ban đầu cho thấy, về ngoại hình dê có màu lông khá đa dạng. Tầm vóc nhỏ, mắn đẻ, nhưng số con đẻ ra/lứa lại thấp; tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa không cao bằng những giống dê khác. Nhưng về chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc hơn so với thịt dê lai và các h 2 giống dê khác. Tuy nhiên, trong quá trình chăn nuôi dê vấn đề dịch bệnh cũng gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế của người dân.
Ngoài bệnh ký sinh trùng, bệnh truyền nhiễm cũng thường xảy ra gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi dê, đó là các bệnh truyền nhiễm như: tiêu chảy, viêm loét miệng, viêm phổi, viêm kết mạc. Vì vậy, phòng trừ các bệnh này là việc cần được quan tâm. Xuất phát từ thực tiễn, được sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở em tiến hành thực hiện chuyên đề “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị một số bệnh thường gặp ở đàn dê nuôi tại Chi nhánh NC & PT động thực vật bản địa huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên” 1. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn dê và dê con theo mẹ - Tình hình,biện pháp phòng và điều trị một số bệnh truyền nhiễm thường xảy ra trên dê tại Chi nhánh NC & PT động thực vật bản địa huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Có những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ và lâm sàng một số bệnh thường xảy ra ở đàn dê nuôi tại Chi nhánh NC & PT động thực vật bản địa - Công ty Khai khoáng miền núi huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. - Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng trừ một số bệnh thường xảy ra cho dê có hiệu quả cao. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khuyến cáo cho người chăn nuôi dê áp dụng biện pháp phòng trị một số bệnh thường xảy ra trên đàn dê.
Từ đó nâng cao năng suất hiệu quả chăn nuôi dê. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập * Điều kiện tự nhiên Chi nhánh NC & PT động thực vật bản địa - Công ty Khai khoáng miền núi: nằm trên địa bàn xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên 5,8ha.
Địa giới hành chính tiếp giáp với các xã sau: phía Đông Bắc và Đông tiếp giáp với xã Phú Đô; phía Tây và Tây bắc tiếp giáp xã Yên Lạc; phía Nam giáp với xã Vô Tranh. * Điều kiện về khí hậu Chi nhánh NC & PT động thực vật bản địa: nằm trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc nên có đặc điểm chung về thời tiết của khu vực. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 nhưng lượng mưa chủ yếu tập chung vào các tháng 6, 7, 8.
Những tháng còn lại lượng mưa thấp hơn. Nhiệt độ trung bình từ 23˚C - 28˚C. Độ ẩm tương đối từ 80 - 85%. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước tới tháng 4 năm sau, đặc điểm của những tháng này là lượng mưa ít, nhiệt độ thấp, thời tiết khô lạnh.
Nhiệt độ trung bình từ 15 - 19˚C. Có những thời điểm nhiệt độ xuống tới 4 - 7˚C, độ ẩm tương đối 70 - 75%. Nhìn chung điều kiện khí hậu khá thuận lợi cho sản xuất của trang trại. Tuy nhiên sự khác biệt giữa 2 mùa là điều kiện bất lợi cho sản xuất.
Lượng mưa tập chung vào tháng 6, 7, 8 cộng với địa hình đất canh tác bằng phẳng, pha cát dẫn đến hiện tượng ngập úng cây trồng. Ngược lại mùa khô kéo dài nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất cây thức ăn cho đàn gia súc. h 4 * Điều kiện về địa hình, đất đai Chi nhánh NC & PT động thực vật bản địa - Công ty Khai khoáng miền núi huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên: có địa hình bằng phẳng, có dòng Sông Cầu chảy qua, đất đai tương đối màu mỡ, tầng đất canh tác khá dầy. Đây là điều kiện tương đối thuận lợi cho việc sản xuất của trang trại, đặc biệt là sản xuất cây thức ăn xanh phục vụ cho đàn gia súc.
Trong những năm gần đây trại đã đầu tư cho thử nghiệm các giống cây thức ăn xanh có năng xuất cao và giá trị dinh dưỡng cao. Chính vì vậy, mà đã giải quyết được nhu cầu thức ăn xanh cho gia súc vào mùa mưa và có thức ăn dự trữ cho mùa khô. Tổng diện tích của trang trại là 5,8ha trong đó có 1,5ha là diện tích trồng cây thức ăn cho gia súc. Diện tích đồng cỏ chăn thả là 01ha.
Như vậy, đây là điều kiện khá thuận lợi cho phát triển cây thức ăn gia súc. * Cơ cấu tổ chức của trang trại: Cơ cấu của trang trại được tổ chức như sau: 01 chủ trại: Ths. Trần Đình Quang Cố vấn chăn nuôi: PGS. Trần Văn Phùng và TS.
Bùi Thị Thơm Nghiên cứu sinh Ths. Nguyễn Thị Minh Thuận 02 Quản lý kỹ thuật 05 sinh viên thực tập Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi đều được khoán đến từng công nhân và sinh viên, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại. * Đối tượng nuôi của trang trại: - Tại trang trại có nuôi dê nghiên cứu là giống dê Nản Định Hóa, ngoài ra trại còn nghiên cứu, cung cấp chuyển giao nhân giống kỹ thuật chăn nuôi giống ngựa bạch (Dominant White) và giống hươu sao (Cervus nippon). Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Nguồn gốc và vị trí của dê trong hệ thống phân loại động vật 2. Nguồn gốc của dê Rất nhiều nhà khoa học ở các nước khác nhau đã nghiên cứu về nguồn gốc của dê nhà, tuy còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này song phần lớn ý kiến cho rằng: Dê là một loài vật nuôi được con người thuần hóa sớm nhất sau đấy là chó (Trần Trang Nhung và Cs, 2005) [3]. Hiện nay, người ta cho rằng khu vực nuôi dê lâu đời nhất là nước Trung Đông, sau đó đến Ấn Độ và Ai Cập, tiếp đến là nước Châu Âu, Châu Á và Châu Phi. Khu vực nuôi dê mới nhất là Đông Nam Á.
Vị trí của dê trong hệ thống phân loại động vật Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng dê nhà có tên khoa học là: Caprahicus, thuộc loài dê (Capra), họ phụ dê cừu (Caprarovance) với 2 chi Caprinae và Hemirragus thuộc họ sừng rỗng (Bovidae) bộ phụ nhai lại (Ruminantia), bộ guốc chẵn (Artiodactila), lớp có vú (Mammalia). Theo Nguyễn Đình Rao và cs, (1979) [4], cho biết vị trí của dê nhà trong hệ thống phân loại động vật như sau: - Giới (kingdom): Animal. - Ngành (phylum): Chordata - Lớp (class): Mammalia - Bộ (order): Atiodactyla - Bộ phụ nhai lại: Ruminantia - Họ (family): Bovidae - Họ phụ dê cừu: Caprarovance - Chủng (genus): Capra - Loài (species): Caprahircus h 6 Tuy con dê được xếp cùng trong họ phụ dê cừu nhưng nó khác hẳn cừu không chỉ ở ngoại hình, mà dê còn khác về tập tính hoạt động như thích leo trèo núi đá, ăn được rất nhiều loại lá cây mà trâu bò không ăn được. Đặc điểm giống dê Định Hóa 2.
Nguồn gốc Tổ tiên của giống dê địa phương Định Hóa là loài dê núi Sơn Dương, người dân địa phương gọi là dê Nản. Đặc điểm chung Dê địa phương Định Hóa có thân hình thấp nhỏ so với các giống dê ngoại nhập. Màu lông khá đa dạng (chủ yếu màu cánh gián, màu vàng nhạt và màu xám). Khối lượng sơ sinh của dê Nản từ 1,2 - 1,3kg; 6 tháng tuổi con đực khoảng 7kg, con cái có trọng lượng khoảng 5kg; trưởng thành con đực nặng khoảng 25 - 30kg, con cái có trọng lượng khoảng 17 - 20kg.
Dê có đầu to, đôi tai nhỏ, ngắn, hướng ngang sang hai bên, cổ ngắn, môi linh hoạt, răng cửa sắc. Dê có 2 gốc sừng gần sát nhau và choãi ra, mặt cắt ngang sừng dê có hình tam giác. Trán dê lồi, xương mũi thẳng. Ở dê cái sừng nhỏ và ngắn hơn sừng dê đực.
Sừng dê có nhiều hình dáng cong ngược về phía sau, thẳng đứng, cong lên trên, chĩa ra 2 bên…cả dê đực và dê cái đều có râu. Chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc hơn so với thịt dê lai và các giống dê khác. Đặc điểm sinh sản Tuổi động dục lần đầu của dê thay đổi từ 6 đến 8 tháng tuổi, cá biệt có một số cá thể có biểu hiện động dục lần đầu ở 4 - 5 tháng tuổi. Chu kỳ động dục của dê là 19 - 21 ngày, động dục kéo dài 1 - 3 ngày, khi động dục âm hộ hơi sưng đỏ hồng, chảy dịch nhờn, kêu la bỏ ăn, nhảy lên lưng con khác, nếu đang tiết sữa thì giảm sữa đột ngột.
Dê cái mang thai trung bình từ 145 - 155 ngày là đẻ.