Đặt vấn đề Nông nghiệp là một trong ba ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng trong năm 2018 vừa qua gặp nhiều biến động, đứng trước những áp lực, thách thức và khó khăn về chất lượng sản phẩm thịt lợn và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế. Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn đã và đang được chú trọng đầu tư và phát triển, áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Những tiến bộ về giống, thức ăn, công tác thú y, làm cho đàn lợn không ngừng tăng lên về số lượng cũng như chất lượng ngày càng được nâng cao.
Không chỉ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước mà còn phục vụ xuất khẩu. Phát triển ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng mang lại lợi nhuận kinh tế trước tiên là đối với người chăn nuôi, sau đó là tạo động lực tiền đề đem lại lợi ích kinh tế cho quốc gia. Tuy nhiên để đạt được những thành tựu đó, để chăn nuôi lợn có hiệu quả, một trong những vấn đề rất quan trọng cần đặc biệt quan tâm đó là phòng chống dịch bệnh và vệ sinh thú y. Dịch bệnh là yếu tố hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến chi phí chăn nuôi và giá thành của sản phẩm.
Cùng với đó là phải thực hiện tốt công tác chăm sóc và nuôi dưỡng quản lý đàn vật nuôi. Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu, cũng như rất nhiều loại thuốc được sử dụng để phòng và trị bệnh, nhưng kết quả đem lại không như mong muốn. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, em tiến hành đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn thịt tại trại Nguyễn Xuân Dũng, Ba Vì - Hà Nội”. Mục tiêu và yêu cầu 1.
Mục tiêu - Xác định tình hình chăn nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng Ba Vì - Hà Nội - Áp dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn thịt nuôi tại trại. - Xác định tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn thịt nuôi tại trại. Yêu cầu - Thực hiện thành thạo quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn thịt nuôi tại trại. - Nhận biết và chẩn đoán được một số bệnh hay xảy ra trên đàn lợn thịt nuôi tại trại.
- Thành thạo các thao tác chuyên môn đã được học, áp dụng và đánh giá hiệu quả của một số phác đồ dùng điều trị bệnh trên đàn lợn thịt nuôi tại trại. m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Ví trí địa lí Trại lợn thịt Nguyễn Xuân Dũng là trại gia công của công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam, trại thuộc thôn Gò Đá Chẹ, xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, Hà Nội, trại nằm cách trung tâm huyện Ba Vì trên 35km, cách trung tâm thành phố Hà Nội 82km.
Xã có địa bàn giáp danh với 2 tỉnh (phía Đông Nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía Tây cách con sông Đà là tỉnh Phú Thọ), có trục đường giao thông. Khánh Thượng là xã miền núi nằm ở sườn Tây núi Ba Vì, với diện tích tự nhiên 2882,43 ha. Điều kiện khí hậu Xã Khánh Thượng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Do đó trại lợn thịt Nguyễn Xuân Dũng mùa hè nóng bức với lượng mưa tương đối cao, mùa Đông lạnh và khô.
Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm khoảng 23.6°C, độ ẩm tương đối trung bình năm là 79%. Lượng mưa trung bình năm là 1800mm và mỗi năm có khoảng 114 ngày mưa, đặc điểm khí hậu rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt giữa 2 mùa nóng, lạnh. Khoảng từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa, nhiệt độ trung bình mùa này là 29. Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là mùa đông với thời tiết khô ráo, nhiệt độ trung bình mùa đông là 15.
Giữa 2 mùa lại có sự chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) làm cho thời tiết diễn biến khá phức tạp. Cơ cấu tổ chức của trại Trại gồm có 10 người trong đó có: 01 cán bộ quản lý; 01 kỹ sư của công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam; 01 kế toán của công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam; 01 công nhân (4 sinh viên thực tập, 1 quản lý). Cơ sở vật chất của trại Trang trại Nguyễn Xuân Dũng được xây dựng trên diện tích gần 10 ha, chia làm 2 khu chính là: Khu sinh hoạt chung và khu chăn nuôi, ngoài ra còn có hồ cá, vườn cây ăn quả. Trong đó khu sinh hoạt chung gồm: Khu nhà ở của công nhân, có một dãy nhà ở gồm 4 phòng, phòng 01 là phòng gia đình anh chị quản lý, phòng 02 là phòng kỹ sư, phòng 03 là phòng công nhân, phòng 04 là nhà ăn.
Các phòng đều được lăn sơn, nền lát đá hoa, mái bắn tôn, phòng kỹ sư có tủ đựng quần áo, có bàn ghế để làm việc. Riêng phòng ăn còn có tủ lạnh, tivi được lắp truyền hình cáp phục vụ nhu cầu giải trí sau giờ làm việc. Nhà bếp xây dựng khang trang, sạch sẽ, có đầy đủ dụng cụ, có bếp gas để thuận tiện trong việc nấu ăn cho quản lý và công nhân. Khu chăn nuôi gồm: 3 chuồng nuôi lợn thịt, nhà kho và phòng sát trùng.
3 chuồng nuôi mỗi chuồng gồm 2 dãy, mỗi dãy lại chia thành 7 ô nhỏ với kích thước 4. Hệ thống chuồng trại xây dựng hiện đại kiên cố và khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió. Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa có diện tích 1.5m, mỗi cửa sổ cách nhau 50cm.
Trên trần được lắp đặt hệ thống chống nóng bằng thép. Sau mỗi chuồng đều có đường rãnh thoát nước thải, các đường rãnh này đều thông về một bể chứa nước thải tập trung đảm bảo vệ sinh khu vực chăn nuôi. Nguồn nước sử dụng trong trại đều bơm từ 2 giếng khoan và 1 giếng khơi, nước được bơm lên 2 téc nước để sinh hoạt và bơm lên 4 bể chứa để chăn nuôi. Đánh giá về tình hình sản xuất của trại Để đánh giá tình hình chăn nuôi của trại lợn, chúng tôi đã tiến hành điều tra số lượng đàn và khối lượng lợn hơi xuất chuồng trong 4 năm gần đây (2016-2019) được thể hiện như sau: + Năm 2016: 1820 con + Năm 2017: 1912 con + Năm 2018: 1932 con + Năm 2019: 1948 con Qua sự đánh giá trên cho thấy số lợn nuôi tai trại tăng qua các năm là tăng dần từ qua các năm 2017 số lượng lợn tăng lên 92 con năm 2018 số lợn được tăng thêm 20 con đến 20 tháng 05 năm 2019 đàn lơn tăng thêm 16 con doa đông số lượng lợn không thay đổi nhiều dưới 2000 con/lứa.
Thuận lợi và khó khăn * Thuận lợi Được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương tạo điều kiện cho sự phát triển của trại. Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông. Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân, sinh viên. Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn, năng lực, nhiệt tình năng động.
Công nhân làm việc chăm chỉ tuân thủ tốt quy định của trại và có ý thức trách nhiệm trong công việc. Chủ trang trại có năng lực, trình độ và lòng đam mê yêu nghề, luôn nắm bắt được tình hình xã hội. Chăm lo quan tâm đến đời sống của anh em cán bộ kỹ sư, công nhân và sinh viên thực tập. m 6 Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại.
* Khó khăn Dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn. Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng ảnh hưởng đến công tác chăn nuôi. Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại gặp nhiều khó khăn. Giá lợn gặp nhiều biến động khiến việc đầu tư các trang thiết bị cơ sở hạ tầng, nâng cấp hệ thống xử lý chất thải gặp nhiều khó khăn.
Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước 2. Đặc điểm sinh trưởng khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn 2. Đặc điểm sinh trưởng, cơ sở di truyền của sự sinh trưởng Sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu cho các khái niệm cũng phần nào khác nhau. Khi nghiên cứu về sinh trưởng, Johansson.
(1972) [9] đã có khái niệm như sau: về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, cho nên người ta lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng. Tuy nhiên, có những khi tăng khối lượng không phải là tăng trưởng. Sự tăng trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, số lượng và các chiều của tế bào mô cơ. Ông còn cho biết cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh thưởng đến chỉ tiêu phát triển của lợn.
Sự phát triển các cơ quan trong cơ thể Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn, các tổ chức khác nhau được ưu tiên tích luỹ khác nhau. Các hệ thống chức năng như hệ thần m 7 kinh, hệ tiêu hoá, tuyến nội tiết được ưu tiên phát triển trước hết. Sau đó là bộ xương, hệ thống cơ bắp và cuối cùng là mô mỡ. Cơ bắp là phần quan trọng tạo nên sản phẩm thịt lợn.
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể, từ lúc sơ sinh đến khi trưởng thành, số lượng các bó cơ và sợi cơ ổn định. Tuy nhiên, giai đoạn lợn còn nhỏ đến khoảng 60 kg trong cơ thể có sự ưu tiên cho sự phát triển các tổ chức nạc. Đối với mô mỡ, sự tăng lên về số lượng và kích thước tế bào mỡ là nguyên nhân chính gây nên sự tăng về khối lượng của mô mỡ. Ở giai đoạn cuối của quá trình phát triển trong cơ thể lợn có quá trình ưu tiên phát triển và tích luỹ mỡ.