Đặt vấn đề Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức là thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO). Nông nghiệp nước ta có nhiều thêm những cơ hội phát triển. Các khu vực mậu dịch tự do thương mại có thêm nhiều cơ hội cho việc giảm thuế quan, mở rộng thị trường quốc tế cho ngành lương thực, thực phẩm, nhất là ngành chăn nuôi. Trong chăn nuôi thì chăn nuôi lợn khá phổ biến.
Chăn nuôi lợn có từ rất lâu đời và ngày càng phát triển bởi tính riêng biệt của nó như thời gian sinh trưởng ngắn, thu hồi vốn nhanh, kỹ thuật nuôi khá đơn giản. Bên cạnh đó chăn nuôi lợn còn tận dụng được phụ phẩm, phế phẩm trong quá trình sinh hoạt và sản xuất của người dân, tận dụng được nguồn lao động của gia đình. Do vậy chăn nuôi lợn nói chung có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta. Bên cạnh đó chăn nuôi lợn không chỉ cung cấp thực phẩm trong nước mà còn hướng mạnh đến xuất khẩu ra thị trường thế giới để tăng nguồn thu ngoại tệ.
Trong chiến lược phát triển kinh tế ở nước ta giai đoạn 2010 - 2020, ngành nông nghiệp phát triển theo hướng hàng hóa tập trung, trong đó chăn nuôi lợn là ngành chăn nuôi chính Trong những năm qua, ngành chăn nuôi lợn ở nước ra đã có sự tăng trưởng vượt bậc. Trong vòng 10 năm từ năm 2007- 2017, tổng số đầu lợn của cả nước tăng từ 26,56 triệu con lên đến 27,40 triệu con (niêm giám thống kê 2017). Tốc độ tăng trưởng 3 năm từ 2013 - 2016 còn lớn hơn nhiều, quy mô đàn lợn thịt lên đến 54,46 triệu con, tương đương với 4,01 triệu tấn thịt lợn hơi. Sản xuất thịt chiếm xấp xỉ 2/3 tổng sản lượng hàng năm.
Cũng trong giai đoạn 2013 - 2016, nhu cầu tiêu dùng thịt lợn của người Việt tăng từ 25,3 - 26,5kg/người/năm và nhu cầu ngày càng tăng lên. m 2 Đứng trước yêu cầu đó, ngành chăn nuôi nói chung cũng như ngành chăn nuôi lợn nói riêng phải có một bước phát triển mới để sánh kịp với các nước khác trên thế giới. Đặc biệt hiện nay tình hình chăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn nhất là về chăm sóc và nuôi dưỡng là lợn thịt hay mắc các bệnh tật, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng khắt khe. Trước thực tế đó chúng em thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn thịt nuôi tại trại lợn Cù Trung Lai, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định”.
Mục đích của đề tài - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho lợn thịt nuôi tại trại Cù Trung Lai, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. - Nắm được quy trình chăm sóc và phòng trị những triệu chứng của lợn khi mắc bệnh. - Phát hiện kịp thời những con lợn bị ốm, lợn mắc bệnh. - Đánh giá được tỉ lệ mắc bệnh trên đàn lợn thịt nuôi tại trại Cù Trung Lai, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
- Đánh giá được kết quả điều trị bệnh. - Sinh viên phải nâng cao được tay nghề, thành thạo về chẩn đoán, điều trị bệnh, dùng thuốc chính xác, có hiệu quả. Yêu cầu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trang trại Cù Trung Lai, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. - Áp dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn thịt nuôi tại trại đạt hiệu quả cao.
- Xác định được tình hình nhiễm bệnh, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng và trị bệnh cho đàn lợn thịt nuôi tại trang trại. - Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn. - Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân. m 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Điều kiện cơ sở thực tập 2. Vị trí địa lý Trang trại Cù Trung Lai được thành lập cuối năm 2016, là trại gia công của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam với quy mô 2400 lợn thịt. Trại được xây dựng tại xã Yên Hồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định với diện tích 3 ha được UBND tỉnh Nam Định giao khoán. Ý Yên là một huyện nằm ở phía tây tỉnh Nam Định, với diện tích 241km².
Phía Bắc giáp huyện Bình Lục và huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam, phía Tây và phía Nam giáp các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Khánh và Thành phố Ninh Bình của tỉnh Ninh Bình, phía đông giáp huyện Nghĩa Hưng, phía Đông bắc giáp huyện Vụ Bản. Huyện Ý Yên cách thành phố Nam Định 27km, cách Hà Nội 117km. Điều kiện khí hậu Ý Yên là huyện có khí hậu cận nhiệt đới ẩm ấm. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 – 24°C.
Tháng lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1, với nhiệt độ trung bình từ 16 – 17°C. Tháng 7 nóng nhất, nhiệt độ khoảng trên 29°C. Lượng mưa trung bình trong năm từ 1750 – 1800mm, chia làm 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau.
Số giờ nắng trong năm khoảng 1650 – 1700 giờ. Độ ẩm tương đối trung bình: 80 – 85%. Mặt khác, do nằm trong vùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm huyện Ý Yên thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 – 6 cơn/năm. Cơ cấu tổ chức của trại - 01 chủ trại.
- 01 kỹ sư công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam. - 04 Sinh viên thực tập. Cơ sở vật chất của trại Trang trại Cù Trung Lai với tổng diện tích 30000m2 nằm ở vị trí xa khu dân cư 1km tránh ô nhiễm không khí, tiếng ồn và môi trường ảnh hưởng tới người dân. Trại có nguồn nước ngầm đảm bảo cung cấp đầy đủ nước cho sinh hoạt và chăn nuôi.
Cách trại 1km là đường giao thông rất thuận lợi cho việc vận chuyển nguyên liệu đầu vào như thức ăn, thuốc thú y, dụng cụ chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm. Trại nằm cách xa khu dân cư khoảng 1,5km quanh trại là đồng ruộng và một số trại gia cầm, thủy cầm nhỏ. Chuồng được xây theo hướng Đông Nam (tránh hướng gió mùa). Tổng diện tích chuồng nuôi là 4240m2, có 4 chuồng nuôi, mỗi chuồng có 2 dãy chuồng, các công trình phụ trợ như kho, nhà ở, ao, vườn…ở cách xa chuồng.
Hệ thống vòi uống nước được lắp đặt hợp lý phù hợp với mọi lứa tuổi lợn bao gồm 6 vòi/chuồng. Ứng với từng độ cao thì vận tốc nước chảy từ các vòi là khác nhau, tăng dần theo chiều cao của vòi. Hệ thống ánh sáng: Xung quanh chuồng nuôi được lắp các ô kính trong suốt đảm bảo thu nhận ánh sáng tự nhiên, đèn chiếu sáng gồm 8 bóng đèn huỳnh quang ở lối đi. Hệ thống chống nóng và điều hòa không khí: Trong chuồng có trần tôn lạnh cách nhiệt, đầu chuồng có hệ thống làm mát với các tấm giấy và hệ thống nước lưu thông và cuối chuồng có hệ thống 6 quạt hút (2 quạt nhỏ công suất m 5 0,75KW, 4 quạt to công suất 1,1KW).
Giữa chuồng lắp một nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ ở chuồng nuôi, từ đó điều chỉnh nhiệt độ ở chuồng nuôi kịp thời giúp lợn phát triển ổn định. Hệ thống cung cấp nước gồm 3 giếng khoan bơm vào các bể chứa cung cấp nước phục vụ chăn nuôi. Trong chuồng có các vòi uống tự động cung cấp đầy đủ nước uống cho nhu cầu của lợn. Hệ thống thoát và xử lí chất thải: Mỗi dãy chuồng đều có một rãnh thoát nước được che kín phía trên, nước thải và phân được đổ chung vào bể biogas với thể tích 3000m3.
Có hệ thống các bể sục khí, mương sinh học xử lí chất thải lỏng, máy ép phân, dãy cây chắn bụi giảm mùi. Thuận lợi và khó khăn của trại Thuận lợi + Trại được xây dựng cách xa khu dân cư, không làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh. + Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc. + Trại được xây dựng theo mô hình chăn nuôi công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay.
Khó khăn + Do trang trại nằm trong vùng chịu khí hậu 2 mùa mưa nóng và khô lạnh nên lượng mưa ít, vậy nên nước được cung cấp cho trang trại bị thiếu thốn rất nhiều, nên có một thời gian phải sử dụng nước ao cạnh trang trại để đẩy máng phân, tuy nhiên nguồn cung cấp nước uống cho lợn vẫn là nguồn nước sạch. + Công tác xử lý chất thải và xác lợn chết của trang trại cũng còn một số vấn đề chưa tốt. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Đặc điểm sinh trưởng khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn 2.
Đặc điểm sinh trưởng, cơ sở di truyền của sự sinh trưởng Có nhiều nhà nghiên cứu từng nghiên cứu về vấn đề này nên cũng nhiều khái niệm khác nhau về sinh trưởng. Theo Đặng Hoàng Biên (2016) [2], sinh trưởng là quá trình sinh tổng hợp, tích lũy các chất dinh dưỡng từ bên ngoài được đưa vào để tăng lên về kích thước các mô trong cơ thể, làm cho kích thước và khối lượng cơ thể tăng lên. Chung quy lại sinh trưởng chính là quá trình tăng lên về khối lượng và kích thước cơ thể do sự tăng lên về khối lượng và kích thước của tế bào. Để xác định sinh trưởng người ta dùng phương pháp cân định kì khối lượng và đo kích thước các chiều của cơ thể.
Ở lợn thường đo 4 chiều: Dài thân, vòng ngực, cao vây, vòng ống. Thời điểm đo thường ở các tháng tuổi sơ sinh, 1, 2, 4, 6, 8, 10, 12, 18, 24, 36. Sự phát triển các cơ quan trong cơ thể Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn, các tổ chức khác nhau được ưu tiên tích luỹ khác nhau. Các hệ thống chức năng như hệ thần kinh, hệ tiêu hoá, tuyến nội tiết được ưu tiên phát triển trước hết.
Sau đó là bộ xương, hệ thống cơ bắp và cuối cùng là mô mỡ. Cơ bắp là phần quan trọng tạo nên sản phẩm thịt lợn. Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể, từ lúc sơ sinh đến khi trưởng thành, số lượng các bó cơ và sợi cơ ổn định. Tuy nhiên, giai đoạn lợn còn nhỏ đến khoảng 60kg trong cơ thể có sự ưu tiên cho sự phát triển các tổ chức nạc.
Đối với mô mỡ, sự tăng lên về số lượng và kích thước tế bào mỡ là nguyên nhân chính gây nên sự tăng về khối lượng của mô mỡ.