Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chăn nuôi lợn giữ vai trò trọng yếu trong việc cung cấp nguồn thực phẩm tại Việt Nam. Theo số liệu thống kê được tác giả trích dẫn từ Tổng cục Thống kê (2018), tính đến thời điểm 01/10/2018, tổng đàn lợn cả nước đạt 28.948 con với sản lượng thịt đạt 3.424 tấn, chiếm 71,46% tổng sản lượng thịt các loại trong toàn ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, năm 2019, ngành chăn nuôi lợn đối mặt với khủng hoảng nghiêm trọng do dịch tả lợn Châu Phi bùng phát từ tháng 2 và lan rộng ra 63 tỉnh, thành phố tính đến tháng 9/2019. Đến thời điểm tháng 12/2019, tổng đàn lợn cả nước giảm 11,5% (xuống còn 24.202 con), đàn lợn nái giảm 31,8% (còn trên 2,7 triệu con), và đàn nái cụ kỵ, ông bà giảm 9,6% (từ 129.642 con xuống còn 109.826 con). Riêng tháng 5/2019 ghi nhận đỉnh điểm với trên 1,2 triệu con lợn bị tiêu hủy, kéo theo sản lượng thịt lợn cả năm 2019 sụt giảm 13,8% (đạt gần 3,3 triệu tấn). Trong bối cảnh áp lực tái đàn gắn liền với yêu cầu an toàn sinh học cao, giai đoạn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (cai sữa) là giai đoạn mẫn cảm nhất, quyết định tỷ lệ sống và năng suất xuất chuồng sau này. Do đó, đề tài được thực hiện nhằm hoàn thiện và chuẩn hóa việc quản lý kỹ thuật tại cơ sở sản xuất tập trung.
Mục đích và yêu cầu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể trong văn bản như sau:
- Mục đích của chuyên đề:
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thông qua việc áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn tại cơ sở thực tập.
- Xác định tình hình nhiễm bệnh, biện pháp phòng và trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại.
- Chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị một số bệnh thường gặp cho lợn con nuôi tại trại.
- Yêu cầu của chuyên đề:
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại Nguyễn Thị Ánh Tuyết, xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn đạt hiệu quả cao.
- Xác định được tình hình nhiễm bệnh, nắm vững cách phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại.
- Tiến hành điều trị lợn mắc bệnh bằng một số phác đồ điều trị cụ thể.
- Tuân thủ nội quy tại cơ sở chăn nuôi, duy trì ý thức kỷ luật.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (con lai thương phẩm giữa dòng mẹ Landrace x Yorkshire và dòng bố Duroc do Công ty Cổ phần Greenfeed Việt Nam cung cấp).
- Không gian nghiên cứu: Trại lợn Nguyễn Thị Ánh Tuyết, xóm Gò Già, xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Trang trại có quy mô xây dựng khép kín trên diện tích khoảng 1.000 m².
- Thời gian nghiên cứu: Quá trình thực tập và theo dõi số liệu chuyên đề tập trung từ tháng 11/2019 đến tháng 5/2020; dữ liệu chăn nuôi tổng thể của trại được thống kê qua 3 năm từ năm 2018 đến nửa đầu năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết và khung sinh lý chuyên ngành:
Tác giả xây dựng nghiên cứu dựa trên các lý thuyết sinh lý học và thú y chuyên ngành gia súc non:
- Sinh lý điều tiết thân nhiệt: Căn cứ lý thuyết của Trần Thị Dân (2008) và Trương Lăng (2000), cơ quan điều tiết thân nhiệt của lợn con sơ sinh chưa hoàn chỉnh, lớp mỡ dưới da mỏng, thân nhiệt chỉ dần ổn định sau 15–20 ngày tuổi. Nếu được bú sữa đầu sau 1 giờ sinh, thân nhiệt lợn con ổn định sau 8–12 giờ; nếu sau 4 giờ mới được bú, thời gian ổn định kéo dài từ 18–24 giờ.
- Sinh lý tiêu hóa và hiện tượng Hypohydric: Dẫn liệu từ Cù Xuân Dần và Phan Địch Lân (1996), Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2005) chỉ rõ trong dạ dày lợn con dưới 1 tháng tuổi không có axit HCl tự do (trạng thái thích ứng giúp bảo toàn kháng thể sữa mẹ không bị biến tính bởi dịch vị). Men pepsinogen chỉ được hoạt hóa thành pepsin khi có mặt HCl tự do; việc tập ăn sớm kích thích tế bào vách tiết dịch vị và hoàn thiện dung tích cơ quan tiêu hóa (dung tích dạ dày lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần so với sơ sinh).
- Cơ chế truyền kháng thể thụ động: Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007), Trần Văn Phùng và cộng sự (2004), lợn con sơ sinh hoàn toàn không có kháng thể trong máu mà nhận $\gamma$-globulin từ sữa đầu qua cơ chế ẩm bào trong 24 giờ đầu sau sinh (hàm lượng $\gamma$-globulin trong máu đạt 20,3 mg/100 ml sau 24 giờ và tăng lên 24 mg/100 ml lúc 3 tuần tuổi, thấp hơn mức 65 mg/100 ml ở lợn trưởng thành).
- Căn nguyên vi sinh vật và dịch tễ học: Hệ vi sinh đường ruột với vai trò của Escherichia coli mang các loại kháng nguyên O, K, H, F và hai loại enterotoxin (độc tố chịu nhiệt ST và không chịu nhiệt LT theo Smith H., 1976); vi khuẩn Staphylococcus hyicus gây viêm da tiết dịch; vi khuẩn Streptococcus suis type 1 gây viêm khớp, viêm phế quản và màng não; cùng tác nhân virus gây dịch tiêu chảy cấp PED (thuộc họ Coronaviridae, theo Nguyễn Trung Tiến và cs., 2015).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp theo dõi lâm sàng và dịch tễ học: Quan sát, phát hiện triệu chứng lâm sàng hằng ngày tại các dãy chuồng đẻ; theo dõi tần suất mắc các hội chứng tiêu chảy, viêm da, viêm khớp và thiếu máu thiếu sắt.
- Phương pháp can thiệp kỹ thuật thú y: Thực hiện quy trình đỡ đẻ, bấm số tai, cắt rốn, mài nanh, cắt đuôi, thiến dịch hoàn lợn đực lúc 4–5 ngày tuổi, tiêm sắt phòng thiếu máu, phòng cầu trùng, tiêm phòng vắc xin đúng lịch trình kỹ thuật của trại.
- Phương pháp thử nghiệm phác đồ điều trị: Đưa ra các phác đồ dùng thuốc kháng sinh (Amoxicillin, Colistin), thuốc sát trùng, điện giải (Oresol) và thuốc trợ sức (Catosal, Vitamin C, B-complex) để đánh giá tỷ lệ khỏi bệnh.
- Nguồn dữ liệu: Số liệu theo dõi trực tiếp tại sổ sách kỹ thuật của trại Nguyễn Thị Ánh Tuyết; sổ theo dõi đàn nái phối, đẻ, cai sữa do kỹ thuật viên Greenfeed và sinh viên ghi nhận.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả phân tích tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tác động của dịch tả lợn Châu Phi năm 2019 đối với ngành chăn nuôi cả nước, khẳng định vị trí chiến lược của đàn nái giống và sự cần thiết của quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ. Mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể nhằm chuẩn hóa thao tác can thiệp thú y lâm sàng và giảm thiểu tỷ lệ chết ở gia súc non.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Nội dung chương này bao gồm việc mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, cơ cấu tổ chức và cơ sở hạ tầng của cơ sở thực tập:
- Điều kiện cơ sở thực tập: Trại nằm tại xóm Gò Già, xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên (khu vực bán sơn địa có diện tích 9.700 ha trên tổng số 12.029,55 ha của thị xã). Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân 23ºC, lượng mưa trung bình năm 2.2678 mm/năm (mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm 70–80%). Nhân lực vận hành gồm 01 chủ trại, 01 kỹ thuật viên giám sát thuộc Công ty Greenfeed và 02 sinh viên thực tập. Diện tích chuồng 1.000 m², bố trí liên hoàn gồm chuồng mang thai (105 ô), chuồng đẻ (38 ô), chuồng cách ly (2 ô) và hệ thống Biogas xử lý nước thải.
- Quy trình chăn nuôi và sử dụng thức ăn: Trại sử dụng hoàn toàn thức ăn hỗn hợp viên của Greenfeed theo từng giai đoạn sinh lý (Bảng khẩu phần chi tiết phía dưới).
- Quy trình kỹ thuật can thiệp trên lợn nái và lợn con:
- Trước đẻ 7 ngày đến sau đẻ 14 ngày, nái được bổ sung kháng sinh Clos-BMD (10 g/con/ngày) phòng viêm ruột hoại tử cho lợn con.
- Chuồng đẻ và ô úm (kích thước 1,2 m x 1,5 m) được để trống, tiêu độc từ 3–5 ngày trước khi đưa nái vào.
- Can thiệp lợn nái sau đẻ: tiêm Oxytocin tổng cộng 6 mũi để kích thích co bóp đẩy sản dịch và tiết sữa (mũi 1 sau khi ra nhau 1 giờ, mũi 2 cách mũi 1 khoảng 2 giờ, mũi 3 cách mũi 2 khoảng 4 giờ; ngày thứ hai tiêm 2 mũi sáng - chiều; ngày thứ ba tiêm 1 mũi). Lợn mẹ sốt bỏ ăn được dùng Catosal 10% (1 ml/10 kg thể trọng) và truyền Glucose 5% hoặc NaCl 0,9%.
- Can thiệp lợn con: sơ sinh lau khô bằng bột Mistral, buộc rốn cách bụng 3–4 cm, cắt rốn cách nút buộc 1 cm và sát trùng cồn iod; mài 8 răng nanh sau 6 giờ; cắt đuôi cách gốc 2,5 cm trong vòng 24 giờ; 1 ngày tuổi uống phòng tiêu chảy Amoxcol (2 ml/con) và uống kháng thể IgOne-S (2 ml/con); 2 ngày tuổi uống thảo dược Vietsuol - PED Cure (2 ml/con); 3 ngày tuổi tiêm sắt Fer-Plus (2 ml/con) và uống phòng cầu trùng Biococ (1 ml/con); 4–5 ngày tuổi thiến đực kết hợp tiêm 1 ml Clamoxyl L.A; 5–7 ngày tuổi tập ăn cám mã số 9014/GF01 (5–7 lần/ngày); 5–15 ngày tuổi trộn men Ecopiglet (100 g/1 kg thức ăn); 7 ngày tuổi tiêm vắc xin Respisure One phòng Suyễn; 14 ngày tuổi tiêm vắc xin Circo One phòng Circo. Cai sữa tiến hành lúc 21–24 ngày tuổi khi thể trọng đạt tối thiểu 5 kg/con (trung bình 7 kg/con).
- Các bệnh thường gặp và phác đồ điều trị: Phân tích chi tiết 4 bệnh lý chủ yếu gồm thiếu máu thiếu sắt, viêm da hoại tử do Staphylococcus hyicus, bệnh lợn con phân trắng do E. coli và bệnh viêm đa khớp do Streptococcus suis.
| Nhóm lợn |
Giai đoạn / Lứa tuổi |
Định mức khẩu phần thức ăn (kg/ngày) |
Mã số cám sử dụng |
| Nái hậu bị |
Mới nhập về Đã lên giống |
Ăn tự do 2,0 – 2,5 |
GES HITEK (9044/GF07) |
| Nái mang thai |
1 – 84 ngày 85 – 110 ngày 111 – 113 ngày |
2,0 – 2,5 2,5 – 3,0 2,0 |
GES HITEK (9044/GF07) |
| Nái đẻ (chuẩn bị) |
Trước đẻ 5 ngày Trước đẻ 4 ngày Trước đẻ 3 ngày Trước đẻ 2 ngày Trước đẻ 1 ngày |
2,2 (hậu bị) / 3,0 (nái rạ) 2,0 (hậu bị) / 2,5 (nái rạ) 1,7 (hậu bị) / 2,0 (nái rạ) 1,5 (cả hai) 1,0 (cả hai) |
LAC HITEK (9054/GF08) |
| Nái nuôi con |
Ngày đẻ thực tế Ngày 1 sau đẻ Ngày 2 sau đẻ Ngày 3 sau đẻ Ngày 4 sau đẻ Ngày 5 sau đẻ Ngày 6 – 20 sau đẻ Trước cai sữa 2 ngày Trước cai sữa 1 ngày Ngày cai sữa |
0,5 – 1,0 (hoặc nhịn ăn) 1,0 2,0 3,0 4,0 5,0 2,0 + (số con x 0,4) 4,0 2,0 Không cho ăn |
LAC HITEK (9054/GF08) |
| Lợn con theo mẹ |
Từ tập ăn (5–7 ngày) đến cai sữa (21 ngày) |
Cho ăn tự do, chia 5–7 lần/ngày |
9014 / GF01 |
Lịch tiêm phòng vắc xin tổng thể tại trại được quy định nghiêm ngặt theo bảng dưới đây:
| Loại lợn |
Lứa tuổi / Thời điểm tiêm |
Loại vắc xin sử dụng |
Bệnh phòng |
| Lợn đực và nái hậu bị |
7 ngày sau nhập 14 ngày sau nhập 21 ngày sau nhập 28 ngày sau nhập 35 ngày sau nhập 42 ngày sau nhập |
PRRS 1 AD 1 + Parvo 1 SFV + FMD Ivermectin PRRS 2 AD 2 + Parvo 2 |
Tai xanh mũi 1 Giả dại 1 + Khô thai 1 Dịch tả lợn + Lở mồm long móng Nội ngoại ký sinh trùng Tai xanh mũi 2 Giả dại 2 + Khô thai 2 |
| Lợn nái mang thai |
Tuần thứ 10 Tuần thứ 12 Tháng 3 - 7 - 11 Tháng 4 - 8 - 12 |
SFV FMD PRRS AD |
Dịch tả lợn Lở mồm long móng Tai xanh định kỳ Giả dại định kỳ |
| Lợn con theo mẹ |
7 ngày tuổi 14 ngày tuổi |
Respisure One (2 ml tiêm bắp) Circo One (2 ml tiêm bắp) |
Suyễn lợn (Mycoplasma) Bệnh còi cọc do Circovirus |
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành
Phần này trong mục lục xác định cơ cấu thực hiện bao gồm địa điểm, thời gian, nội dung theo dõi các chỉ tiêu về số lượng lợn con sơ sinh, tỷ lệ sống đến cai sữa, chỉ tiêu tăng trọng, phương pháp theo dõi lâm sàng và các phương pháp xử lý số liệu thống kê.
Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả
Nội dung này tổng hợp tình hình chăn nuôi qua các năm 2018 đến nửa đầu năm 2020, kết quả thực hiện các khâu kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, công tác phòng bệnh bằng vắc xin và vệ sinh tiêu độc, kết quả điều tra tỷ lệ mắc bệnh trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi, và kết quả điều trị thử nghiệm các ca bệnh lâm sàng thực tế tại trại.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng kết về tính khả thi, hiệu quả của quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh tại trại Nguyễn Thị Ánh Tuyết, đồng thời nêu các đề nghị kỹ thuật nhằm khắc phục khó khăn về cơ sở hạ tầng chuồng nuôi.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính từ quy trình kỹ thuật có trong văn bản:
- Chuẩn hóa quy trình dinh dưỡng và chăm sóc: Thiết lập và áp dụng thành công chế độ ăn giảm dần trước đẻ và tăng dần từng nấc 1 kg/ngày trong 5 ngày đầu sau đẻ, giúp lợn mẹ nhanh chóng phục hồi thể trạng, hạn chế sốt sữa và điều tiết lượng sữa nuôi con tối ưu từ ngày thứ 6 bằng công thức $2,0\text{ kg} + (\text{số con} \times 0,4)\text{ kg}$. Lợn nái nuôi con được đảm bảo lượng nước uống 30–50 lít/ngày/con.
- Hiệu quả của phác đồ can thiệp sớm ở lợn con:
- Lợn con được bảo hộ sắt thông qua việc tiêm 2 ml Fer-Plus vào ngày thứ 3 sau sinh, khắc phục triệt để tình trạng thiếu hụt sinh lý (sữa mẹ chỉ đáp ứng 1 mg sắt/ngày trong khi lợn con cần 7–16 mg/ngày để duy trì nồng độ Hemoglobin tiêu chuẩn 10–12 g/100 ml máu).
- Tỷ lệ hấp thu kháng thể $\gamma$-globulin từ sữa đầu được tối ưu hóa nhờ việc cho bú trong vòng 10–60 phút sau khi sinh.
- Thao tác kỹ thuật mài nanh (8 răng sau 6 giờ sinh), cắt đuôi (cách gốc 2,5 cm trong 24 giờ đầu), thiến lợn đực (4–5 ngày tuổi kết hợp tiêm 1 ml Clamoxyl L.A) và tập ăn sớm bằng cám chất lượng cao (9014/GF01 từ ngày thứ 5) giúp giảm stress, lợn con xuất chuồng cai sữa lúc 21–24 ngày tuổi đạt thể trọng bình quân 7 kg/con (mức tối thiểu 5 kg/con).
- Phác đồ điều trị các bệnh thường gặp:
- Bệnh lợn con phân trắng do E. coli: Sử dụng Hamcoli-s (2 ml/10 kg thể trọng) hoặc Clamoxyl L.A (1 ml/10 kg thể trọng), kết hợp bù nước bằng dung dịch Oresol 5% (pha 28 g trong 1 lít nước cho uống trong 24 giờ), điều trị liên tục 2–3 ngày mang lại chuyển biến tích cực.
- Bệnh viêm da do Staphylococcus hyicus: Kết hợp tắm rửa bằng nước phèn chua, sát trùng ngoài da, chấm cồn iod 5% và tiêm bắp Clamoxyl L.A (0,5 ml/con) liên tục từ 2–5 ngày.
- Bệnh liên cầu khuẩn (Streptococcus suis): Tiêm Clamoxyl L.A (1 ml/ngày) kéo dài 3–5 ngày kết hợp bổ sung Vitamin C và B-complex để hồi phục chức năng vận động cho lợn con bị viêm khớp.
- Biện pháp an toàn sinh học: Vệ sinh định kỳ bằng xút (NaOH) ngâm tấm đan tỷ lệ 1 kg/20 lít nước trong 12 giờ sau mỗi lứa cai sữa, xịt gầm 1 lần/ngày, xả vôi gầm 1 lần/tuần (tăng lên 3 lần/tuần khi có dịch tiêu chảy), và phun sát trùng APA Clean (2–3 ml/lít nước).
Đóng góp của khóa luận:
Khóa luận đã hệ thống hóa và chứng minh tính thực tiễn của quy trình công nghệ chăn nuôi lợn nái ngoại và lợn con theo mẹ theo mô hình liên kết kỹ thuật công nghiệp giữa trang trại tư nhân và công ty sản xuất con giống lớn (Greenfeed). Khóa luận cung cấp hệ thống định mức dinh dưỡng, lịch trình vắc xin và các can thiệp dược lý chi tiết theo từng ngày tuổi của gia súc non tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được tiến hành tại một cơ sở chăn nuôi duy nhất (Trại Nguyễn Thị Ánh Tuyết) với quy mô 38 ô chuồng đẻ, do đó các phát hiện mang tính đặc thù cho điều kiện tiểu khí hậu vùng đồi núi bán sơn địa của thị xã Phúc Yên. Cơ sở vật chất của trại còn hạn chế về chiều rộng hành lang đường đi giữa các ô chuồng, gây cản trở nhất định cho công tác dọn dẹp cơ học và vận chuyển chất thải. Yếu tố biến động thời tiết cực đoan (nhiệt độ mùa hè lên đến 39ºC, mùa đông xuống 12ºC) gây áp lực lớn lên chi phí duy trì giàn làm mát, sưởi ấm và thuốc thú y.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá hiệu quả phòng trị bệnh và tăng trọng của đàn lợn con trên quy mô nhiều chu kỳ chăn nuôi qua các mùa khác nhau trong năm; theo dõi các chỉ tiêu năng suất sinh trưởng, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và tốc độ tăng trọng hàng ngày (ADG) của lợn con sau giai đoạn cai sữa khi chuyển sang nuôi thịt thương phẩm.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị ứng dụng thực tế cao đối với:
- Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y và Bác sĩ Thú y làm tài liệu tham khảo thực tế về các thao tác nghiệp vụ đỡ đẻ, can thiệp ngoại khoa trên gia súc non (cắt đuôi nhiệt, mài nanh, thiến, mổ thoát vị hecni rốn/bẹn).
- Kỹ thuật viên, chủ trang trại chăn nuôi lợn sinh sản quy mô vừa và nhỏ tham khảo bảng định mức khẩu phần ăn chuẩn xác cho lợn nái trước - sau đẻ và lịch tiêm phòng vắc xin cho toàn trại.
- Các nghiên cứu tương tự về bệnh học đường tiêu hóa (E. coli, cầu trùng, PED) và hô hấp trên lợn con theo mẹ cần nguồn tư liệu so sánh về liều lượng thuốc thú y, biệt dược và cách thức chăm sóc hộ lý lâm sàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao lợn con sơ sinh bắt buộc phải được tiêm sắt vào thời điểm 3 ngày tuổi?
Trả lời: Theo nghiên cứu, nhu cầu sắt của lợn con cần từ 7–16 mg/ngày (hoặc 21 mg/kg tăng trọng) để duy trì nồng độ Hemoglobin máu ở mức bình thường (10–12 g/100 ml), trong khi sữa lợn mẹ chỉ cung cấp khoảng 1 mg sắt/ngày (đáp ứng 10–30% nhu cầu). Nếu không tiêm bổ sung 2 ml Fer-Plus vào lúc 3 ngày tuổi, lượng Hemoglobin sẽ giảm xuống dưới 7–8 g/100 ml máu sau 10 ngày tuổi, gây thiếu máu, còi cọc và kế phát tiêu chảy phân trắng.
2. Lịch trình vắc xin cho lợn con theo mẹ tại trại được quy định ở những mốc thời gian nào và phòng bệnh gì?
Trả lời: Đàn lợn con tại trại được tiêm hai loại vắc xin chính: lúc 7 ngày tuổi tiêm bắp 2 ml vắc xin Respisure One phòng bệnh Suyễn lợn (Mycoplasma hyopneumoniae); lúc 14 ngày tuổi tiêm bắp 2 ml vắc xin Circo One phòng hội chứng còi cọc sau cai sữa do Porcine Circovirus.
3. Khẩu phần ăn của lợn nái nuôi con từ ngày thứ 6 sau sinh đến trước khi cai sữa được tính theo công thức nào?
Trả lời: Từ ngày thứ 6 sau đẻ đến 20 ngày tuổi, khẩu phần thức ăn hỗn hợp LAC HITEK (9054/GF08) của lợn nái được cấp phát theo công thức: Khẩu phần (kg/ngày) = $2,0 + (\text{số con} \times 0,4)$. Thức ăn được chia làm 3 bữa (sáng, trưa, chiều tối) kết hợp cung cấp đủ 30–50 lít nước uống/ngày.
4. Khi lợn con bị mắc bệnh tiêu chảy phân trắng, phác đồ điều trị và biện pháp hỗ trợ gồm những gì?
Trả lời: Tác giả áp dụng phác đồ tiêm hằng ngày vào buổi sáng bằng một trong hai loại kháng sinh: Hamcoli-s (liều 2 ml/10 kg thể trọng) hoặc Clamoxyl L.A (liều 1 ml/10 kg thể trọng), duy trì liên tục 2–3 ngày. Đồng thời, hòa 1 gói Oresol 5% (28 g) vào 1 lít nước đun sôi để nguội cho uống trong 24 giờ để chống mất nước và mất chất điện giải, kết hợp giữ chuồng khô ráo và sưởi ấm.
5. Lợn con đực tại trại được thiến vào thời điểm nào và cần lưu ý kỹ thuật gì?
Trả lời: Lợn con đực được thiến lúc 4–5 ngày tuổi để loại bỏ mùi hôi khi nuôi thịt. Trước khi thiến phải kiểm tra loại trừ các con bị thoát vị (hecni), những con này phải đánh dấu để lại xử lý ngoại khoa sau 10 ngày. Sau khi rạch và kéo cắt đứt dịch hoàn, vị trí phẫu thuật được bôi cồn iod 5% và tiêm 1 ml Clamoxyl L.A để phòng nhiễm trùng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hoàng Thị Thanh Tâm đã phản ánh đầy đủ, chính xác quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và can thiệp thú y trên đàn lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại Nguyễn Thị Ánh Tuyết (Vĩnh Phúc) dưới sự giám sát kỹ thuật của Công ty Greenfeed. Các giải pháp kỹ thuật từ đỡ đẻ, cho bú sữa đầu, mài nanh, cắt đuôi, tiêm sắt, tiêm phòng vắc xin đến việc điều trị bằng phác đồ kháng sinh kết hợp hộ lý chuồng trại đều bám sát cơ sở khoa học và thực tiễn chăn nuôi tập trung. Đây là tài liệu tổng kết kỹ thuật có độ tin cậy cao, đóng góp dữ liệu hữu ích cho việc hoàn thiện quy trình chăn nuôi lợn an toàn sinh học trong giai đoạn tái đàn sau dịch bệnh.