Đặt vấn đề Nước ta là một nước nông nghiệp, bên cạnh trồng trọt ngành chăn nuôi nước ta đang từng bước phát triển và đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế quốc dân. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam (2018) tổng số lợn của nước ta tính đến thời điểm 01/10/2018 là 28.948 con với tổng sản lượng thịt là 3.424 tấn chiếm 71,46% tổng sản lượng thịt các loại trong ngành chăn nuôi. Trong năm 2019, ngành chăn nuôi lợn đã phải đối mặt với bệnh dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện và lan rộng. Sau khi ổ dịch đầu tiên được phát hiện tại miền Bắc từ tháng 2 đến tháng 9 dịch bệnh đã lan ra khắp 63 tỉnh, thành phố.
Theo Tổng cục Thống kê, tổng đàn lợn cả nước đang sụt giảm mạnh, do đó sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng trong năm 2019 cũng giảm sâu so với năm 2018. Tại thời điểm tháng 12/2019, tổng đàn lợn của cả nước là 24.202 con, giảm 11,5%, trong đó đàn nái là trên 2.7 triệu con, giảm so với năm 2018 là 31,8%. Tại thời điểm 01/10/2018, tổng đàn nái cụ kỵ, ông bà của cả nước là 129.642 con, hiện nay (12/2019) tổng đàn nái cụ kỵ, ông bà của cả nước là 109.826 con, giảm 9,6% so với năm 2018. Với số lượng đàn nái như trên sẽ hoàn toàn chủ động được nguồn cung con giống cho việc tái đàn lợn.
Sản lượng thịt lợn trong quý IV/2019 giảm nhiều do tháng 5 và tháng 6/2019 là tháng cao điểm của bệnh dịch tả lợn Châu Phi, lợn bị tiêu hủy nhiều (nhất là tháng 5 đã có trên 1,2 triệu con bị tiêu hủy), thay thế đàn lợn rất ít dẫn đến nguồn cung cấp các tháng cuối quý IV thiếu hụt cùng với diễn biến thị 9 trường quốc tế phức tạp đã khiến giá thịt lợn tang cao và nhanh trong những tháng cuối của quý IV/2019. Dự kiến sản lượng thịt lợn năm 2019 đạt gần 3,3 triệu tấn giảm 13,8%. m 2 Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và hướng đến phát triển bền vững. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có những quan tâm đúng đắn đến ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn.
Rất nhiều các trang trại chăn nuôi lợn kiểu công nghiệp đã được hình thành, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về thức ăn, giống, chăm sóc quản lý chuồng trại đã được áp dụng thành công. Chăn nuôi lợn đang phát triển cả về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng như cơ sở vật chất phục vụ chăn nuôi, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm cho người tiêu dùng. Tuy vậy, việc số lượng vật nuôi ngày càng tăng cùng với các ảnh hưởng liên tục từ các yếu tố như: khí hậu, thời tiết, nguồn nước…nên vấn đề dịch bệnh có những biến đổi rất khó lường. Đòi hỏi chúng ta phải có chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng hợp lý, đặc biệt quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của đàn lợn sau này.
Biện pháp hiệu quả nhất chính là việc thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng với việc sử dụng vắc xin phòng bệnh và kết hợp sử dụng các loại kháng sinh để điều trị bệnh một cách hợp lý và kịp thời. Để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, cùng với sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa, giáo viên hướng dẫn, và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại Nguyễn Thị Ánh Tuyết, xã Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích của chuyên đề Sinh viên nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thông qua việc áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn tại trại Nguyễn Thị Ánh Tuyết, xã Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc.
m 3 Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại. Chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị một số bệnh thường gặp cho lợn con nuôi tại trại. Yêu cầu của chuyên đề Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại Nguyễn Thị Ánh Tuyết, xã Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc. Áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn đạt hiệu quả cao.
Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết cách phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại. Tiến hành điều trị lợn mắc bệnh bằng một số phác đồ điều trị. Tuân thủ nội quy tại cơ sở, ý thức kỷ luật tốt. m 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Trại lợn Nguyễn Thị Ánh Tuyết nằm trên địa phận xóm Gò Già, xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Trại hoạt động từ năm 2016 do Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết là chủ và được cán bộ kỹ thuật của Công ty cổ phần Greenfeed Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại.
Thị xã Phúc Yên có địa hình đa dạng, tổng diện tích là 12.029,55 ha, chia thành 2 vùng chính là: Vùng đồi núi bán sơn địa gồm các xã: Ngọc Thanh, Cao Minh, Xuân Hòa, Đồng Xuân; diện tích 9700 ha. Vùng đồng bằng gồm các phường: Nam Viêm, Tiền Châu, Phúc Thắng, Hùng Vương, Trưng Trắc, Trưng Nhị; diện tích 2300 ha, có hồ Đại Lải và nhiều đầm hồ có thể phát triển các loại hình du lịch. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi và hoạt động giao thương giữa các vùng lân cận. Đặc điểm khí hậu Phúc Yên là một thị xã thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa đông.
Nhiệt độ bình quân năm là 23ºC, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là 39ºC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 12ºC. Độ ẩm tương đối trong khu vực khá cao, trung bình năm là 83% (tháng 10) và độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%. Hướng gió chủ đạo về mùa đông là Đông - Bắc, về mùa hè là Đông - Nam. m 5 Lượng mưa trung bình năm là 2.2678 mm/năm, chế độ mưa chia làm 2 mùa rõ rệt.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tổng lượng mưa chiếm 70 - 80% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô thì lượng mưa rất nhỏ, chiếm khoảng 20 - 30% tổng lượng mưa cả năm. Đặc điểm của hệ thống sông, suối trong thị xã có ý nghĩa về mặt kinh tế, rất thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa sử dụng chống lũ và phục vụ sản xuất nông nghiệp. Cơ cấu tổ chức của trại Trại Nguyễn Thị Ánh Tuyết hoạt động từ năm 2016 với cơ cấu tổ chức như sau: 01 chủ trại: Là chủ và điều hành công việc chung.
01 kỹ thuật trại: Là người của công ty Greenfeed và là người phụ trách các kỹ thuật trên đàn lợn tại trại. 02 sinh viên thực tập. Cơ sở vật chất của trại Trại hoạt động từ năm 2016 nên cơ sở vật chất còn tương đối mới và đầy đủ. Về thiết kế xây dựng Trại có diện tích khoảng 1000 m².
Trại được chia làm 02 khu chính là: Khu sản xuất và khu vực nhà ở, sinh hoạt cho công nhân viên. Khu vực sản xuất sắp xếp theo thứ tự: Khu chuồng lợn nái mang thai, khu chuồng lợn nái nuôi con và khu chuồng cách ly. Ở đầu khu vực sản xuất có 01 nhà kho để dự trữ cám và thuốc. Ở cuối khu vực sản xuất có hệ thống Biogas để xử lý phân và nước thải.
Điện, nước Hệ thống lưới điện kéo dài toàn bộ khu vực trại, có 01 máy phát điện được dùng khi bị mất điện. m 6 Nước được cung cấp bởi hệ thống giếng khoan, nước được bơm trực tiếp lên bể sau đó được khử khuẩn bằng Cloramin B. Chuồng bầu hay chuồng lợn nái mang thai Chuồng bầu có 01 chuồng và được chia làm 2 dãy với 105 ô chuồng. Đầu dãy 1 là ô chuồng lợn đực, tiếp đến là khu vực để thử, ép và phối tinh lợn và nuôi nhốt lợn chửa kì I; dãy 2 nuôi nhốt lợn chửa kì II.
Đầu mỗi chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 4 quạt hút gió. Toàn bộ sàn là bê tông, cao hơn so với nền chuồng để thuận tiện cho việc dọn vệ sinh, khử trùng. Chuồng được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự động. Dọc 2 bên dãy chuồng có hệ thống ống dẫn nước thuận tiện cho việc dọn vệ sinh, rửa máng, xịt gầm.
Chuồng đẻ hay chuồng lợn nái nuôi con Chuồng đẻ có 01 chuồng, bao gồm 2 dãy với 38 ô chuồng sàn, đầu chuồng có hệ thống dàn mát và 4 quạt ở cuối chuồng. Sàn cho lợn mẹ là sàn bê tông, sàn cho lợn con là sàn nhựa, được thiết kế cao hơn so với nền chuồng. Mỗi ô sàn đều có hệ thống vòi uống nước tự động cho lợn mẹ và lợn con, máng tập ăn cho lợn con được lắp vào lúc 5 ngày tuổi. Dọc 2 bên hành lang có hệ thống ống dẫn nước để thuận tiện cho việc dọn vệ sinh, rửa máng, xịt gầm.
Chuồng cách ly Chuồng cách ly gồm 02 ô chuồng lớn, có hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và phía cuối chuồng có 02 quạt hút gió. Chuồng được lắp hệ thống máng ăn, máng uống tự động. Đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có hố vôi sát trùng được đặt trước cửa ra vào chuồng. Trước khi vào khu vực chuồng nuôi mọi người đều phải thay quần áo, đeo khẩu trang, đeo ủng chuyên dụng và phải đi qua các hệ thống sát trùng.
Khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân cũng rất rộng rãi, có đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày. Khu nhà ăn, bếp nấu rộng rãi, sạch sẽ m 7 và hợp vệ sinh. Xung quanh trại còn trồng rau xanh, cây ăn quả và hệ thống thoát nước rất tốt. Thuận lợi và khó khăn của trại 2.
Thuận lợi Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, đảm bảo an toàn sinh học và không làm ảnh hưởng đến người dân sống xung quanh. Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm trong công việc. Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay.