Đặt vấn đề Hiện nay, ở Việt Nam thịt lợn luôn chiếm tỷ lệ hàng đầu 70,4 - 76,8% khối lượng thịt bán trên thị trường. Vì vậy, chăn nuôi lợn hiện nay ở nước ta đang rất phát triển. Chăn nuôi lợn không những chỉ đáp ứng yêu cầu cung cấp thịt trong nước mà còn phải tham gia xuất khẩu. Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn tận dụng được sức lao động nhàn rỗi, tận dụng phế phụ phẩm dư thừa của nông nghiệp, góp phần làm tăng thêm thu nhập gia đình.
Chăn nuôi lợn ngoại đang được đẩy mạnh trong chăn nuôi nông hộ cũng như ở các trại quốc doanh. Bởi vì, chăn nuôi lợn ngoại có năng xuất cao, tăng trọng nhanh, phẩm chất thịt tốt (tỷ lệ nạc cao, độ dày mỡ lưng thấp), đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng đang đòi hỏi, nhất là khu thành phố và khu công nghiệp. Cho đến nay, Landrace, Duroc và Yorkshire là ba giống lợn đóng vai trò chủ yếu trong khâu sản xuất lợn giống và lợn lai nuôi thịt, trong tương lai nó sẽ góp phần quan trọng vào chương trình “nạc hóa” đàn lợn nước ta. Tuy nhiên, chăn nuôi lợn cũng gặp những khó khăn như tình hình dịch bệnh hay xảy ra.có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế, đặc biệt là chất lượng sản phẩm.
Dịch bệnh không chỉ gặp ở lợn nái, lợn con còn nhỏ mà còn xuất hiện nhiều trên đàn lợn thịt gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thịt. Các bệnh thường gặp ở lợn thịt: dịch tả lợn, phó thương hàn, đóng dấu lợn, lở mồm long móng, viêm phổi. Chăn nuôi lợn thịt là một trong những khâu quan trọng, góp phần quyết định thành công của nghề chăn nuôi lợn, đặc biệt trong việc nuôi lợn thịt muốn đàn lợn lớn nhanh, nhiều nạc thì phải chọn những đàn con giống có nguồn gốc nhập ngoại cao sản. Để quyết định đến năng suất và chất lượng m 2 thịt, thì một phần do điều kiện tự nhiên còn lại quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, chúng em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn thịt tại trại lợn Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh, huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang” 1. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề * Mục tiêu - Ứng dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn chăn nuôi lợn thịt tại trang trại Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh. - Theo dõi tình hình mắc một số bệnh ở lợn thịt nuôi tại Công ty Hải Thịnh. - Học được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn thịt nuôi tại trang trại Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh.
- Thực hiện quy trình phòng và chẩn đoán bệnh cho lợn. - Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn thịt nuôi tại trang trại. * Yêu cầu - Thực hiện nghiêm túc kế hoạch của Nhà trường và Khoa CNTY, thường xuyên liên lạc với GVHD để xin ý kiến chỉ đạo. - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trang trại lợn Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh.
- Áp dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn thịt nuôi tại trại đạt hiệu quả cao. - Xác định được biện pháp phòng và điều trị bệnh cho lợn thịt tại trại đạt tỷ lệ khỏi bệnh cao. - Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân. m 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên - Trại lợn giống cao sản nằm trên địa phận xã Thường Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Huyện Hiệp Hòa nằm ở phía tây tỉnh Bắc Giang, có vị trí địa lý: Phía Đông bắc giáp huyện Tân Yên.
Phía Đông giáp huyện Việt Yên. Phía Nam giáp huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Phía Tây nam giáp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Phía Tây bắc giáp thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Xã Thường Thắng có diện tích 7,75 km2, dân số năm 1999 là 7230 người, mật độ dân số đạt 933 người/km2. Xã Thường Thắng có 13 thôn: Trong Làng, Tân Hiệp, Tam Sơn, Đường Sơn, Chợ Thường, Hồng Phong, Tân Tiến, Tiến Bộ, Đồng Tâm, Thống Nhất, Khúc Bách, Dinh Đồng, Hiệp Đồng. Đây là điều kiện khá thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán giữa các xã, huyện thành bên cạnh. Trại lợn chỉ cách thị trấn Thắng và chợ huyện Hiệp Hòa 4km, nên có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, giải quyết được một phần nhỏ cho đầu ra.
Xã cách thủ đô Hà Nội 50km theo đường đi bộ. - Khí hậu: Khí hậu trên địa bàn huyện Hiệp Hòa thuộc kiểu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm. Nhiệt độ trung bình 23 - 24 °C, lượng mưa trung bình mỗi năm 1.700mm, nhiệt lượng bức xạ mặt trời khá lớn khoảng 1.765 giờ nắng một năm m 4 - Giao thông, thủy lợi: Giao thông: Đường bộ của Hiệp hòa khá thuận tiện, có ba tuyến chính: quốc lộ 37 từ Đình Trám qua Thắng (huyện Hiệp Hòa) dài 17 km), tỉnh lộ 295 Đông Xuyên - Thắng lên Cao Thượng (đoạn qua huyện dài 20 km), đường 296 nối Thắng qua cầu Vát tới phố Nỉ (đoạn qua huyện dài 9,5 km). Ngoài ra còn hai tuyến chỉ ở trong nội huyện: từ Thắng đi Lữ và bến Gầm dài 9 km, từ Thắng đi bến đò Quế Sơn dài 5 km.
Năm tuyến đường trên đều đã rải nhựa. Trại có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các khu vực trung tâm và các khu vực xung quanh; có đường liên thôn chạy qua gần khu vực trại đã được bê tông hóa, lòng đường rộng thuận lợi cho ô tô có thể ra vào trại để vận chuyển con giống, thức ăn, vật tư cũng như các sản phẩm chăn nuôi. Thủy lợi: Trại có hệ thống bơm nước giếng khoan tự động và bể chứa nước thải chưa qua xử lý, ống thoát nước thải đã qua xử lý ra mương thoát nước, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế của trại và hạn chế chất thải trong chăn nuôi thải ra ngoài môi trường. Cơ sở vật chất của cơ sở thực tập.
a) Quá trình thành lập Trại lợn giống cao sản nằm trên địa phận xã Thường Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Là trại lợn gia công của Công ty cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh, hoạt động theo phương thức: thuê công nhân, công ty cung cấp giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Văn Chuyền làm quản lí, cán bộ kỹ thuật chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại. b) Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức: gồm 3 nhóm m 5 + Nhóm quản lý: 1 quản lí giám sát mọi hoạt động của trại.
+ Nhóm kỹ thuật: 1 kỹ sư. + Nhóm công nhân: 3 công nhân, 4 sinh viên thực tập. Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu, tổ chuồng cai sữa và tổ chuồng lợn thịt. Có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc quản lý chung các thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại.
c) Cơ sở vật chất của trại Trại Lợn giống cao sản được xây dựng trên diện tích 13.000m2 gồm trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 300 nái bao gồm: 2 chuồng đẻ (chuồng đẻ 1 có 36 ô và chuồng đẻ 2 có 42 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô), 2 chuồng bầu mỗi chuồng có 110 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô (chuồng bầu 1 có 10 ô lợn đực), 1 chuồng cai hở nuôi lợn thịt, lợn hậu bị và đực giống kích 5m × 6m + 12 ô nuôi lợn đực kích thước (2,4m × 1,6m/ô) , và 1 chuồng úm có 12 ô kích thước 5m × 6m. Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc… Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng có 3 quạt thông gió.
Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 50cm. Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng bằng thép. Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: kính hiển vi, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác. m 6 Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng.
Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng khoan. Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau. d) Tình hình sản xuất của trang trại * Công tác chăn nuôi Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,25 - 2,3 lứa/năm. Số con sơ sinh là 12 con/đàn; số con cai sữa là 10,5 con/đàn; lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang chuồng úm.
Lợn thương phẩm tại trại được nuôi từ lúc sơ sinh đến lúc xuất bán khoảng 5 đến 6 tháng với trọng lượng trung bình từ 100 đến 115kg. Thức ăn cho lợn thịt là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh cấp cho từng đối tượng lợn của trại. * Công tác vệ sinh thú y của trại Vệ sinh phòng bệnh là công tác rất quan trọng. Nó có tác dụng tăng sức đề kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, hạn chế những bệnh có tính chất lây lan từ đó phát huy tốt tiềm năng của giống.
- Công tác vệ sinh: Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa Hè, mùa Đông được che chắn cẩn thận, xung quanh các dãy chuồng nuôi đều trồng cây xanh tạo độ thông thoáng và mát tự nhiên. Trước cửa vào các khu có rắc vôi bột từ đó hạn chế được rất nhiều tác động của mầm bệnh bên ngoài sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, phun thuốc sát trùng và rắc vôi theo quy định.