Đặt vấn đề Hiện nay bảo tồn các giống gà bản địa cũng như sự đa dạng di truyền sinh học đang là vấn đề rất cấp bách và mang tính toàn cầu. Theo số liệu thống kê năm 2010, trong tổng số 230 triệu con gà đang nuôi trong cả nước, đàn gà thả vườn chiếm đến trên 80%. Các giống gà nội, có sức chống chịu tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu, tuy nhiên năng suất rất thấp. Để nâng cao năng suất, nhằm đáp ứng nhu cầu của các trang trại và tiêu dùng trong nước, trong những năm gần đây, nhiều giống gà lông màu nổi tiếng như Tam Hoàng, Lương phượng, Sacso, Kabir… được nhập về nhưng chúng chỉ thích nghi tốt với việc nuôi nhốt hoặc bán chăn thả,… do đó thịt nhão, chất lượng thịt không cao … không đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, con giống rất đắt và tốn kém, đồng thời người chăn nuôi lại không chủ động được con giống, phải phụ thuộc vào các hãng cung cấp nước ngoài. Các nhà khoa học nhận thấy, bản thân đàn gà địa phương của nước ta là đàn gà lông màu thích nghi với việc chăn thả, chất lượng thịt đặc biệt thơm ngon. Một số giống gà như gà Chọi, Đông Tảo, gà Mía có ngoại hình rất đặc trưng của một giống gà cho thịt. Tuy nhiên, chúng đều có nhược điểm rất lớn, đó là khả năng tăng trọng thấp, sinh sản kém… dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao, không đáp ứng được nhu cầu phát triển của chăn nuôi trang trại tập trung quy mô lớn.
Việc nghiên cứu tìm ra các tổ hợp lai nhằm tạo ra con giống có năng suất, chất lượng thịt cao, sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng … thích nghi với các điều kiện chăn thả hoặc bán chăn thả ở tất cả các vùng miền trong cả nước, trên cơ sở sử dụng các giống gia cầm nhập nội và địa phương sẵn có đang là yêu cầu cấp bách. m 2 Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh trên đàn gà thịt taị công ty Hải Thịnh xã Vô Tranh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1.1 Mục tiêu - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho gà Chọi lai gà Lương Phượng. - Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng và trị bệnh cho gà Chọi lai gà Lương Phượng nuôi tại trại.
Yêu cầu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại gà thương phẩm xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. - Áp dụng được các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho gà Chọi lai gà Lương Phượng. - Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết cách phòng và trị bệnh cho gà Chọi lai gà Lương Phượng nuôi tại cơ sở. m 3 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Huyện Phú Lương là huyện miền núi, nằm ở phía bắc TP. Thái Nguyên, có vị trí địa lý: Phía bắc giáp với huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn).
Phía nam và Đông Nam giáp TP. Phía tây giáp huyện Định Hóa. Phía tây nam giáp huyện Đại Từ. Phía đông giáp huyện Đồng Hỷ, huyện Võ Nhai.
Huyện lỵ đặt tại thị trấn Đu, cách trung tâm TP. Thái Nguyên 22km về phía bắc. Điều kiện tự nhiên Thái Nguyên là một thành phố miền núi phía Bắc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm 23,20C. Huyện có tổng diện tích tự nhiên 35071 ha, có 13 xã và 02 thị trấn, 252 xóm, phố, tiểu khu, dân số trên 100.000 người, có 8 dân tộc chủ yếu sinh sống (tỷ lệ dân tộc thiểu số chiếm gần 50%).
Điều kiện khí hậu, đất đai tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với cơ cấu cây, con phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, điều kiện đó cũng gây ra nhiều khó khăn cho chăn nuôi. Do mùa Đông khí hậu thường lạnh, hay thay đổi đột ngột, mùa Hè nhiệt độ nhiều lúc lên cao, trời nắng nóng gây bất lợi tới khả năng sinh trưởng, sức chống chịu bệnh tật của gia súc, gia cầm. Ngoài ra, việc chế biến, bảo quản nông sản, thức ăn chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn.
Điều kiện khí hậu, thủy văn Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1500 - 2500 mm, cao nhất là vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Khoảng 87% lượng mưa tập trung vào mùa mưa, (từ tháng 5 đến tháng 10) trong đó riêng lượng mưa tháng 8 chiếm gần 30% tổng mưa cả năm, nên thường gây ra lũ lụt. Vào mùa khô, đặc biệt là tháng 12, lượng mưa trong tháng chỉ bằng 0,5% lượng mưa cả năm. Điều kiện đất đai Cùng với sự gia tăng dân số, xây dựng cơ sở hạ tầng.
nên diện tích đất nông nghiệp có xu hướng ngày một giảm, gây khó khăn cho việc chăn nuôi. Chính vì thế, trong những năm tới cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi. Đất nông nghiệp: Diện tích là 20,18 ha, bao gồm các loại đất sau: + Đất trồng cây hàng năm khác là 2,18 ha. + Đất trồng cây lâu năm là 4,45 ha.
+ Đất nông nghiệp khác là 13,55 ha. + Đất phi nông nghiệp là 107,08 ha. Điều kiện kinh tế xã hội * Tình hình xã hội Nhìn chung mức sống và trình độ dân trí của người dân ngày càng được nâng cao, hệ thống điện được nâng cấp, cung cấp tới tất cả các hộ dân, đường giao thông được bê tông hóa tới từng xóm, ngõ. Trạm y tế mới của xã hoạt động với nhiều trang thiết bị hiện đại, thường xuyên khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đặc biệt là người già, bà mẹ và trẻ em.
Tuy nhiên, việc dân cư phân bố không đều đã gây ra không ít khó khăn cho phát triển kinh tế cũng như quản lý xã hội của xã. Chính vì vậy, đòi hỏi m 5 hoạt động của các ban, ngành phải thường xuyên, liên tục, tích cực và đồng bộ thống nhất từ trên xuống dưới, đồng thời liên kết phối hợp với các địa phương trong và ngoài tỉnh, đưa nếp sống văn hóa mới phổ biến trong toàn xã tiến tới xây dựng con người văn hoá, gia đình văn hoá, thôn xóm văn hoá và xã văn hoá. Từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đồng thời đẩy mạnh lao động sản xuất, tạo công ăn việc làm cho những lao động dư thừa, từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội. * Tình hình kinh tế Nền kinh tế huyện Phú Lương đang từng bước phá thế độc canh, song tỷ trọng thu nhập chủ yếu vẫn từ kinh tế nông nghiệp.
Ngoài ra, các cây lương thực, cây nguyên liệu, cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đậu tương, mía vẫn được duy trì và phát triển. Một số cây công nghiệp dài ngày đang dần được thu hẹp về diện tích để nhường chỗ cho các giống cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như nhãn, vải, hồng, xoài. Bên cạnh những nỗ lực tìm hướng đi trong việc phát triển tối ưu cây trồng trên đất nông nghiệp, lâm nghiệp của huyện, các vùng chiêm trũng ven sông, các hồ trong huyện đang được chú trọng phát triển chăn thả thủy sản, chủ yếu là cá. Ngoài gia súc, gia cầm là vật nuôi truyền thống, một số động vật nuôi mới đã được đưa vào sản xuất với quy mô tương đối rộng như dê, ong mật.
Phát triển đa dạng sản phẩm hàng hóa, quy mô sản xuất, quy mô hộ gia đình và nhóm hộ gia đình gắn với nông nghiệp nông thôn. Khôi phục và đầu tư chiều sâu các ngành nghề truyền thống, ưu tiên phát triển sản xuất vật liệu xây dựng, sơ chế, chế biến Nông Lâm sản, sản xuất hàng tiêu dùng, sửa chữa cơ khí, điện, điện tử là những mục tiêu ưu tiên của chính quyền huyện. m 6 Kinh tế của xã trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, do vậy mức sống của nhân dân dân đã được nâng lên từng bước rõ rệt. Có được điều đó là nhờ vào chính sách phát triển sản xuất, xã hội hợp lý.
Xã có chủ trương tăng thu nhập bình quân trên đầu người thông qua việc tăng cường phát triển chăn nuôi, trồng trọt. Nguồn lao động chủ yếu của xã vẫn tập trung vào sản xuất nông nghiệp nên việc phát triển nông nghiệp vẫn là chính. Xã đã thực hiện tốt công tác phục vụ sản xuất như cải tạo, tu bổ hệ thống thủy lợi, giao thông, cho vay vốn phát triển sản xuất, đưa ra cơ cấu vật nuôi cây trồng hợp lý, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi. * Về chăn nuôi - Công tác tiêm phòng chống dịch bệnh hằng năm được thực hiện tương đối tốt.
- UBND xã đã tập trung trong việc chỉ đạo phát triển chăn nuôi lợn, gà, khuyến cáo bà con không nên tự phát chăn nuôi với quy mô lớn. * Về trồng trọt - Xã có diện tích trồng cây ăn quả và cây lâm nghiệp tương đối lớn, đó là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển lâm nghiệp, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, mạnh dạn đưa các giống cây mới cho năng suất cao vào sản xuất. Bên cạnh đó, còn trồng xen canh với các cây lương thực khác như ngô, khoai, sắn. - Diện tích đất trồng cây ăn quả của xã khá lớn song còn thiếu tập trung, còn lẫn nhiều cây tạp, lại chưa được thâm canh nên năng suất thấp.
Bước đầu xã đã có quy hoạch lại vườn cây ăn quả và có hướng phát triển hợp lý. - Với cây lâm nghiệp, việc giao đất, giao rừng tới tay các hộ gia đình đã thực sự khuyến khích, nâng cao trách nhiệm của người dân trong việc trồng m 7 và bảo vệ rừng, nên đất trống đồi trọc đã được phủ xanh cơ bản và diện tích rừng mới trồng này được chăm sóc, quản lý tốt. Cơ sở vật chất, hạ tầng của trại 2. Cơ sở vật chất, hạ tầng Với sự đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả và giảm công sức lao động trang trại đã có những đầu tư về cơ sở vật chất như sau: - Trại được xây dựng cách xa khu dân cư, có hàng rào bao quanh.
- Tổng diện tích trang trại là 5000 m2 bao gồm diện tích chăn nuôi, ao cá và cây ăn quả. - Trại gồm có 2 gian trại gà và lợp tấm lợp Fibro xi măng, mỗi trại gà đều được lắp đặt quạt thông gió và 1 nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ. - Diện tích chuồng trại là 2000m2 (2 chuồng).