Đặt vấn đề Ở nước ta trong những năm gần đây, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao nhu cầu về lương thực thực phẩm ngày càng lớn. Trong đó có đóng góp lớn cho nhu cầu thực phẩm, vì vậy yêu cầu phải có những bước thay đổi phù hợp với sự phát triển của xã hội, không ngừng nâng cao năng xuất chất lượng để đáp ứng nhu cầu về thịt, trứng, sữa cho người tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu. gành chăn nuôi ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại cũng như nền kinh tế cả nước. Bên cạnh những phương thức chăn nuôi lợn kiểu truyền thống với quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình thì mô hình chăn nuôi trên quy mô lớn như trang trại ngày càng được mở rộng theo hướng nuôi gia công cho doanh nghiệp nước ngoài, nhằm tận dụng nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, áp dụng vào thực tiễn chăn nuôi, tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp sạch đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Chăn nuôi lợn là ngành cung cấp thịt chủ yếu và đóng vai trò quan trọng ở Việt Nam, phù hợp với nhu cầu của nhân dân. Thịt lợn là0 thịt được tiêu dùng phổ biến nhất trong thực đơn của người Việt, chiếm tới 70% tổng tiêu dùng thịt năm 2019. Theo Cục Chăn nuôi, hiện nước ta có đàn lợn khoảng 25 triệu con giảm 11,5% so với năm 2018. Theo tổ chức phân tích và dự báo thị trường AgroMonitor tổng đàn lợn Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á và đứng thứ 4 thế giới.
Mục tiêu của Cục Chăn nuôi năm nay tăng tổng đàn lợn đạt 35 triệu con. Để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần phải có con giống tốt, muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt m 2 quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ là rất quan trọng. Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý lợn nái và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn con sẽ kém, do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp. Để phát triển nâng cao giá trị kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn.
Chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong chăn nuôi lợn. Xuất phát từ tình hình đó, để góp phần nâng cao hiệu quả nuôi lợn trong điều kiện chăn nuôi hiện nay, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: "Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn nái sinh sản Bùi Mạnh Cường, thôn Nhiễm Dương, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” 1. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích - Đánh giá được tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn nái cao sản Bùi Mạnh Cường, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Nắm được quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại có hiệu quả cao. - Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai. - Đánh giá được tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại, thực hiện được các quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh tại trại. Yêu cầu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Bùi Mạnh Cường.
m 3 - Thành thạo quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại đạt hiệu quả cao; - Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh. - Thành thạo quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại. - Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của bản thân. m 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập - Vị trí địa lý: Nghĩa Đạo là một vùng đất cổ nằm trong vùng văn hóa ’’Luy Lâu”, là xã nông nghiệp nằm ở phía nam huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, xã có đường quốc lộ 38 chạy qua thuận tiện trong việc lưu thông hàng hóa. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 852 ha Tổng dân số toàn xã năm 2011 là 8000 người - Phía Đông giáp huyện Lương Tài - Bắc Ninh - Phía Tây giáp huyện Văn Lâm - Hưng Yên - Phía Nam giáp huyện Cẩm Giàng - Hải Dương - Phía Bắc giáp với xã Ninh Xá - Thuận Thành - Bắc Ninh Xã cách thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành 7 km, vị trí của xã rất thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài. Cách thành phố Bắc Ninh 25 km về phía Bắc, cách thành phố Hải Dương 30km về phía Nam, đặc biệt chỉ cách thành phố Hà Nội 30 km theo quốc lộ 282, Nghĩa Đạo là xã nằm giáp ranh 3 tỉnh: Bắc Ninh, Hải Dương và Hưng Yên, có diện tích đồng bằng lớn, là điều kiện phát triển nông nghiệp toàn diện, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
Khí hậu: thôn Nhiễm Dương, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông, nhưng chủ yếu có 2 mùa chính là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, tháng 1 và tháng 2 thường có mưa phùn, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10. mùa mưa tập trung 85% lượng mưa cả năm và kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10. Tổng lượng mưa trung bình là 1331 mm, số ngày mưa trung bình là 144,3 ngày.
Lượng mưa tăng dần từ đầu mùa đến giữa mùa và đạt cực đại vào tháng 7. Mùa khô mưa ít, lượng mưa không đáng kể chiếm 25% lượng mưa cả năm. Tháng 12 là tháng mưa cực tiểu với 12 - 18 mm, lượng mưa tháng cao nhất là 254 mm. Cơ sở vật chất trang trại - Trang trại có tổng diện tích: 39.000 mét vuông, bao gồm khu chăn nuôi, khu nhà ở, ao cá, hầm biogas, sân thể thao, kho cám, các công trình phụ trợ khác và khuôn viên cây xanh và vườn rau.
- Trại lợn được chia làm hai khu chính là khu điều hành và khu sản xuất. Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại, kế toán và nơi ăn ở, vui chơi giải trí của công nhân. Khu sản xuất bao gồm, 1 chuồng hậu bị, 1 chuồng đực giống, 1 chuồng bầu, 2 nhà an thai (gruop 1 và gruop 2), 9 chuồng đẻ ( 6 chuồng đang hoạt động), 5 chuồng cai sữa, 5 chuồng lợn thịt. Một số các công trình khác phục vụ cho chăn nuôi, kho cám, silo cám, kho chứa vật liệu, nhà sát trùng , kho vôi, phòng tinh giống, nhà máy phát điện.
- Hệ thống chuồng trại được xây khép kín hoàn toàn, hiện đại với công nghệ Hà Lan, có hầm biogas tận dụng được chất thải chăn nuôi, đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng là quạt thông gió và hệ thống máng ăn hoàn toàn tự động và hiện đại. Đặc biệt chuồng bầu mỗi lợn nái đều được quản lý bằng hệ thống con chíp, theo dõi qua smart phone hoặc máy tính. Chuồng được xây dựng tận dụng tối da diện tích đất có. Mái chuồng đươc trần bằng tấm trần chống nóng.
Chuồng bầu - Chuồng bầu được chia ra làm 6 dãy, mỗi dãy có 45 ô, sức chứa của chuồng là 270 con, khung mỗi ô được làm bằng ống kẽm, hệ thống máng tự m 6 động cho mỗi con, gầm chuồng được thiết kế dốc thuận tiện cho việc vệ sinh, nền chuồng là hệ thống sàn bê tông, Đầu dãy là hệ thống nước vệ sinh, xịt máng, xịt gầm. Chuồng đẻ - Có 6 chuồng đang hoạt động, mỗi chuồng có sức chứa 32 con, chia làm 2 dãy mỗi dãy 16 con. Đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng là 3 quạt thông gió, khung lợn nái làm bằng kẽm, sàn cho lợn nái là sàn bê tông, cho lợn con là sàn nhựa, gầm chuồng cũng được thiết kế dốc Chuồng cai sữa - Có 4 chuồng xây dựng sát nhau, mỗi chuồng chó 6 ô, mỗi ô nuôi tối da 30 con và 1 chuồng mới xây dựng có 24 ô, được nuôi trên sàn nhựa - Các chuồng được kết nối với nhau, việc đi lại giữa các chuồng rất thuận tiện. - Phòng pha tinh của trang trại được trang bị các dụng cụ hiện đại, máy lọc nước, kính hiển vi, tủ lạnh, máy ép tinh, nồi nâng nhiệt, nhiệt kế điện tử, và một số thiết bị khác.
- Trong khu chăn nuô, đường đi giữa các chuồng đều được đổ bê tông và các bể sát trùng. - Hệ thống nước uống cho lợn nái và lợn thịt đều là nước giếng khoan, được lọc qua hệ thống lọc nước. Các đường ống dẫn nước được thông tới tất cả các chuồng. - Nước dùng cho rửa chuồng, tắm lợn, xịt gầm đều lấy nước từ giếng khoan xung quanh trại, các đường ống dẫn nước được nối liền với nhau giữa các chuồng, 1 máy bơm có thể dùng cho tất cả chuồng đẻ và chuồng bầu.
Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu trại được tổ chức như sau: - 1 chủ trại m 7 - 1 quản lý trại - 2 kỹ thuật chuồng đẻ và chuồng thịt của cty cám - 1 bảo vệ - 1 kế toán - 10 công nhân và 5 sinh viên thực tập Với đội ngũ công nhân trên, trại được phân ra các tổ, nhóm khác nhau, như tổ chuồng bầu, tổ chuồng đẻ, tổ chuồng thịt. Mỗi khâu trong quá trình chăn nuôi trong trại đều được quản lý phân tới các tổ, các tổ trưởng các tổ trưởng điều phối nhân viên, nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong công việc, thúc dẩy sự phát triển của trai. Thuận lợi và khó khăn 2. Thuận lợi - Trại được xây dựng ở xa khu dân cư, đường xá thuận tiện, - Có đội ngũ quản lý, kỹ thuật có trình độ chuyên môn và tay nghề cao, có tinh thần trách nhiệm trong công việc.