Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi lợn giữ vị trí nòng cốt trong tổng giá trị sản xuất chăn nuôi, cung cấp nguồn thực phẩm quy mô lớn, cung cấp nguồn phân bón cho trồng trọt và nguyên liệu phụ phẩm (da, mỡ) cho công nghiệp chế biến. Xu hướng chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ đang giảm dần, nhường chỗ cho các mô hình trang trại quy mô vừa và lớn. Trong chu trình chăn nuôi lợn công nghiệp, đàn lợn nái sinh sản đóng vai trò quyết định đối với số lượng và chất lượng đàn thương phẩm. Tuy nhiên, hoạt động này thường xuyên chịu tác động bởi biến động chi phí đầu vào, thức ăn và đặc biệt là áp lực dịch bệnh (bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng và các hội chứng bệnh sản khoa gây giảm tỷ lệ thụ thai, chết thai, thai gỗ, sẩy thai, viêm nhiễm sinh dục làm suy giảm năng suất ở các lứa đẻ tiếp theo).

Trước yêu cầu nâng cao năng suất đàn giống và tối ưu hóa quy trình chăn nuôi tại cơ sở liên kết, chuyên đề khóa luận "Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến - huyện Đông Hưng - tỉnh Thái Bình" được thực hiện.

Mục tiêu của chuyên đề bao gồm:

  1. Hiểu biết được thực trạng chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại địa phương.
  2. Hoàn thiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, phòng và điều trị bệnh trên lợn nái sinh sản.
  3. Đề xuất những phương pháp, biện pháp để đẩy mạnh chăn nuôi lợn nái sinh sản.
  4. Đáp ứng nhu cầu thực tiễn, nâng cao năng suất đàn lợn giống, góp phần vào sự phát triển kinh tế.
  5. Góp phần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất.
  6. Hình thành phong cách làm việc sáng tạo, công nghiệp.

Yêu cầu của chuyên đề gồm 3 nội dung:

  • Đáp ứng nhu cầu thực tiễn, nâng cao năng suất đàn lợn giống, góp phần vào sự phát triển kinh tế.
  • Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại Nhâm Xuân Tiến, xã Đông Á, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
  • Xác định được tình hình mắc bệnh, áp dụng và đánh giá hiệu quả điều trị bệnh ở lợn.

Đối tượng nghiên cứu là đàn lợn nái sinh sản giống Landrace lai Yorkshire và đàn lợn con theo mẹ. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại trang trại tư nhân Nhâm Xuân Tiến (Trang trại tổng hợp Đông Hòa, thành lập năm 2010, hoạt động theo mô hình nuôi gia công khép kín cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam) tại xã Đông Á, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, với diện tích mặt bằng 10 ha. Thời gian tiến hành từ ngày 18/05/2018 đến ngày 25/11/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên các cơ sở sinh lý học và bệnh lý học thú y chuyên biệt cho lợn nái và lợn con:

  • Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn nái: Các yếu tố tác động đến sự thành thục tính (mùa vụ, chiếu sáng, mật độ nuôi nhốt, tiếp xúc đực giống); chu kỳ động dục 4 giai đoạn (trước động dục, động dục, sau động dục, yên tĩnh); cơ chế rụng trứng, hình thành thể vàng sản sinh progesterone; biến đổi nồng độ progesterone và oestrogen trong thời gian mang thai bình quân 114 - 115 ngày.
  • Nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn: Các định mức dinh dưỡng cho nái chửa và nái đẻ nhằm tránh hiện tượng tiêu phôi, thai gỗ hoặc nái quá mập gây khó đẻ và hội chứng MMA (viêm vú, viêm tử cung, mất sữa). Sử dụng các dòng thức ăn công nghiệp mã số 566, 567 và 550 của Công ty C.P. Việt Nam.
  • Cơ chế bệnh sinh ở lợn con: Hội chứng tiêu chảy do vi khuẩn đường ruột (Escherichia coli mang các kháng nguyên bám dính K88, K99, 987P; vi khuẩn Salmonella; Clostridium perfringens); tiêu chảy cấp do Coronavirus (PED) phá hủy hệ thống nhung mao ruột non; bệnh viêm da tiết dịch do vi khuẩn Staphylococcus hyicus trên lợn con dưới 8 tuần tuổi.

Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật thực tế được triển khai:

  • Phương pháp theo dõi lâm sàng: Quan sát triệu chứng điển hình hàng ngày tại ô chuồng để phát hiện lợn bệnh; theo dõi chỉ tiêu số con sơ sinh, số con còn sống lúc 21 ngày tuổi và thời điểm cai sữa bằng phương pháp đếm trực tiếp từng ổ.
  • Phương pháp cân khối lượng: Tiến hành cân lợn con ở 3 mốc (sơ sinh, 21 ngày tuổi, cai sữa) vào buổi sáng trước khi cho ăn, sử dụng cố định một loại cân và một người thao tác để hạn chế sai số.
  • Phương pháp can thiệp kỹ thuật và phác đồ điều trị: Trực tiếp thực hiện các thao tác ngoại khoa cơ bản (bấm nanh, bấm thẻ tai, cắt đuôi, đỡ đẻ, truyền dịch); áp dụng các phác đồ kháng sinh và thuốc điều trị thử nghiệm trên các nhóm lợn con mắc bệnh.
  • Công thức xác định chỉ tiêu:
    • Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%) = (Số lợn con còn sống đến cai sữa / Số lợn con sơ sinh) × 100
    • Tỷ lệ nhiễm bệnh (%) = (Số lợn nhiễm bệnh / Số lợn theo dõi) × 100
    • Tỷ lệ khỏi bệnh (%) = (Số lợn khỏi bệnh / Số lợn điều trị) × 100
  • Nguồn dữ liệu và xử lý số liệu: Dữ liệu sơ cấp được ghi chép qua nhật ký theo dõi chuồng nuôi trong 6 tháng thực tập; dữ liệu thứ cấp về cơ cấu đàn giai đoạn 2016 - 2018 thu thập từ sổ sách của ban quản lý trang trại; toàn bộ số liệu được phân tích, tổng hợp trên phần mềm Microsoft Excel 2007.

Nội dung chính theo từng phần

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế, vai trò của chăn nuôi trang trại tập trung và tầm quan trọng của phân đàn nái sinh sản. Xác định rõ 6 mục tiêu, 3 yêu cầu cụ thể của chuyên đề thực tập tốt nghiệp đại học ngành Chăn nuôi Thú y.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Đông Á, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (nhiệt độ trung bình 23 - 24°C, lượng mưa trung bình năm 2.500 mm, độ ẩm không khí 86,1%). Mô tả cơ cấu tổ chức trang trại gồm 63 nhân sự (1 chủ trại, 1 quản lý, 1 kế toán, 4 kỹ sư, 4 tổ trưởng phụ trách 2 chuồng đẻ và 2 chuồng bầu, 48 công nhân, 4 bảo vệ). Hệ thống chuồng trại gồm 6 dãy chuồng đẻ (mỗi dãy 2 ngăn, mỗi ngăn 54 ô kích thước 2,4m × 1,6m trang bị giàn mát và 3 quạt thông gió), 2 chuồng cai sữa, 4 chuồng bầu (mỗi chuồng 560 ô kích thước 2,4m × 0,65m trang bị giàn mát, 8 quạt thông gió và hệ thống làm mát bằng nước), chuồng đực sức chứa 30 con, 3 chuồng cách ly và 1 phòng tinh. Trình bày tổng quan lý thuyết về sinh lý sinh dục, kỹ thuật nuôi dưỡng theo tuần kỳ mang thai, công tác thú y và điểm luận các công trình nghiên cứu trong nước (Lý Thị Liên Khai, Nguyễn Thị Oanh, Hoàng Thị Phi Phượng, Trần Thị Hạnh, Đoàn Thị Kim Dung, Phạm Sỹ Lăng) và tài liệu quốc tế về bệnh tiêu chảy ở lợn con.

Quy định khối lượng thức ăn áp dụng tại chuồng bầu của trại được tổng hợp như sau:

Loại lợn Loại thức ăn Tiêu chuẩn (kg/con/ngày) Ghi chú giai đoạn mang thai
Đực khai thác 567 3,0 Duy trì thể trạng khai thác tinh
Nái hậu bị chờ phối 567 2,4 Kích thích phát triển thể trạng
Nái cai sữa 567 3,0 Nuôi dưỡng phục hồi thể lực
Nái hậu bị mang thai 566 / 567 2,2 (tuần 1-4); 1,6 (tuần 5-12); 2,2 (tuần 13-14); 2,2-2,5 (từ tuần 15) Chuyển sang cám 567 ở giai đoạn mang thai cuối
Nái dạ mang thai 566 / 567 2,2 (tuần 1-4); 1,6 (tuần 5-12); 2,5 (tuần 13-14); 2,5-3,0 (từ tuần 15) Điều chỉnh tăng khối lượng ở giai đoạn chuẩn bị sinh

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành

Xác định đối tượng khảo sát là giống lợn nái ngoại Landrace lai Yorkshire; quy định thời gian thực hiện từ ngày 18/05/2018 đến ngày 25/11/2018. Thiết lập các chỉ tiêu lâm sàng, quy trình làm việc hàng ngày (kiểm tra nhiệt độ đầu chuồng 27°C, vệ sinh máng ăn, dọn phân, rắc vôi, đỡ đẻ, cho uống thuốc phòng cầu trùng, mài nanh, bấm tai, phun sát trùng 2 lần/ngày lúc 9 giờ và 14 giờ) và lịch định kỳ hàng tuần (cai sữa thứ Ba và thứ Bảy; thiến lợn con thứ Tư và Chủ nhật; tiêm vaccine lợn con thứ Sáu; tổng vệ sinh chuồng trại thứ Năm). Quy định cụ thể các biện pháp xử lý cách ly đặc biệt khi phát sinh dịch tiêu chảy cấp PED (truyền dịch điện giải cho nái, cho lợn con uống dung dịch amoxicillin, tạo và sử dụng auto-vaccine gây nhiễm nhân tạo trên đàn nái, sát trùng tăng cường).

Lịch sát trùng trong tuần được áp dụng tại các khu vực chuồng nuôi:

Ngày Chuồng nái chửa Chuồng đẻ Chuồng cách ly Ngoài khu vực chăn nuôi
Thứ 2 Phun sát trùng hoặc rắc vôi đường đi Phun sát trùng toàn bộ khu vực Phun sát trùng + rắc vôi đường đi Quét vôi toàn bộ khu vực
Thứ 3 Quét hoặc rắc vôi đường đi Phun sát trùng đường đi Phun sát trùng + quét vôi đường đi Vệ sinh ngoại cảnh
Thứ 4 Phun sát trùng Xả vôi xút Rắc vôi gầm Tiêu độc khử trùng
Thứ 5 Rắc vôi + xả vôi, xịt gầm Phun sát trùng Phun sát trùng Quét dọn hành lang
Thứ 6 Phun sát trùng Phun sát trùng + rắc vôi Phun sát trùng Phun sát trùng toàn khu
Thứ 7 Vệ sinh tổng chuồng Vệ sinh tổng chuồng Vệ sinh tổng chuồng Vệ sinh tổng khu
Chủ nhật Phun sát trùng Nghỉ định kỳ Phun sát trùng Tiêu độc bổ sung

Lịch phòng bệnh bằng thuốc và vaccine áp dụng cho đàn lợn:

Loại lợn Tuần tuổi / Giai đoạn Bệnh phòng ngừa Tên thuốc / Chế phẩm Đường đưa thuốc Liều lượng (ml/con)
Lợn con 2 - 3 ngày tuổi Thiếu sắt Fe + B12 Tiêm bắp 1,0
Lợn con 3 - 6 ngày tuổi Bệnh cầu trùng Totrazil Cho uống 1,0
Lợn con 16 - 18 ngày tuổi Dịch tả lợn Coglapest Tiêm bắp 2,0
Hậu bị 24 tuần tuổi Hội chứng PRRS PRRS Tiêm bắp 2,0
Hậu bị 25, 29 tuần tuổi Hội chứng khô thai Parvovirus Tiêm bắp 2,0
Hậu bị 26 tuần tuổi Dịch tả lợn Coglapest Tiêm bắp 2,0
Hậu bị 27, 30 tuần tuổi Bệnh giả dại Begonia Tiêm bắp 2,0
Hậu bị 28 tuần tuổi Lở mồm long móng Aftopor Tiêm bắp 2,0
Nái chửa 10 tuần chửa Dịch tả lợn Coglapest Tiêm bắp 2,0
Nái chửa 12 tuần chửa Lở mồm long móng Aftopor Tiêm bắp 2,0

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Đánh giá chi tiết năng suất sinh sản của trang trại: Nái đạt bình quân 2,45 - 2,5 lứa/năm; số lợn con sơ sinh đạt 11,23 con/đàn; số con cai sữa đạt 9,86 con/đàn; thời gian nuôi con theo mẹ kéo dài từ 21 đến 26 ngày tuổi. Phân tích chi tiết quy trình cho ăn theo ngày dự sinh (giảm thức ăn trước đẻ 3 ngày xuống 1 kg/con/ngày để tránh táo bón và hạn chế ngạt thai; sau đẻ 2 ngày tăng dần lên 2 - 5 kg/con/ngày). Báo cáo số liệu thực tế qua các bảng: biến động đàn 2016 - 2018, công tác chăm sóc lợn con, công tác thụ tinh nhân tạo, công tác vệ sinh sát trùng, kết quả tiêm phòng vaccine và hiệu lực các phác đồ điều trị bệnh lâm sàng.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đúc kết toàn bộ các chỉ tiêu kỹ thuật đã đạt được trong 6 tháng thực tập; khẳng định việc tuân thủ quy trình kỹ thuật chăn nuôi khép kín, an toàn sinh học giúp hạn chế lây lan dịch bệnh. Đưa ra 3 đề nghị đối với cơ sở sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật và quản lý vận hành.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu ghi nhận đầy đủ các số liệu kỹ thuật thực tế thu thập tại trại Nhâm Xuân Tiến trong giai đoạn 2016 - 2018 và đợt thực tập năm 2018:

Cơ cấu và biến động đàn lợn của trang trại qua các năm:

STT Loại lợn Năm 2016 (con) Năm 2017 (con) Năm 2018 (con)
1 Lợn nái sinh sản 2.400 2.418 2.425
2 Lợn nái hậu bị 250 245 250
3 Lợn đực giống 37 37 38
Tổng cộng 2.687 2.700 2.713

Quy mô đàn duy trì xu hướng tăng nhẹ qua các năm, tổng đàn năm 2017 tăng 13 con so với năm 2016, năm 2018 tăng thêm 13 con so với năm 2017, chủ yếu tập trung tăng số lượng nái sinh sản phục vụ sản xuất con giống.

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kỹ thuật chăm sóc, phòng bệnh và điều trị:

  1. Chăm sóc lợn con theo mẹ: Trong tổng số 51 lợn nái đẻ được phân công chăm sóc với 630 lợn con, sinh viên đã trực tiếp thực hiện các can thiệp sơ sinh trên 320 lợn con:

    • Bấm nanh: 320/320 con (tỷ lệ an toàn 100%).
    • Bấm số tai: 320/320 con (tỷ lệ an toàn 100%).
    • Cắt đuôi trong 24 giờ đầu: 320/320 con (tỷ lệ an toàn 100%).
    • Tập ăn bằng cám hỗn hợp hoàn chỉnh 550 từ 4 - 6 ngày tuổi với định mức 10 g/con/ngày; cai sữa ở 21 ngày tuổi (3 tuần tuổi).
  2. Công tác phối giống nhân tạo tại chuồng bầu (giai đoạn mang thai dưới 6 tuần):

    • Tháng 5/2018: Đưa vào theo dõi phối 250 con, phối giống đạt 240 con, tỷ lệ thụ thai đạt 96,0%.
    • Tháng 6/2018: Đưa vào theo dõi phối 255 con, phối giống đạt 245 con, tỷ lệ thụ thai đạt 96,1%.
    • Tháng 11/2018: Sinh viên luân chuyển công tác xuống trực tiếp chuồng đẻ, ghi nhận số liệu phối giống tại chuồng bầu là 0 con.
  3. Vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại:

    • Tắm sát trùng cho công nhân và phương tiện: 380 lượt (2 lượt/ngày).
    • Phun sát trùng chuồng nuôi: 190 lượt (1 lượt/ngày).
    • Quét và rắc vôi bột lối đi nội bộ: 190 lượt (1 lượt/ngày).
    • Xả vôi xử lý rãnh thoát: 47 lượt (1 lượt/tuần).
    • Vệ sinh chuồng trại hàng ngày: 380 lượt (2 lượt/ngày).
    • Tiêu độc định kỳ xung quanh trang trại: 141 lượt (3 lượt/tuần).
    • Áp dụng nguyên tắc chăn nuôi "cùng vào - cùng ra" (all-in/all-out), để trống chuồng tối thiểu 5 ngày và phun tẩy uế bằng Fam flus, Virkon S trước khi chuyển nái đẻ mới lên.
  4. Công tác phòng bệnh bằng thuốc và vaccine:

STT Nội dung phòng bệnh Loại lợn Số lượng (con) Số con an toàn (con) Tỷ lệ an toàn (%)
1 Tiêm Fe-Dextran-B12 10% (phòng thiếu sắt) Lợn con (3 ngày tuổi) 320 320 100
2 Nhỏ thuốc phòng cầu trùng Lợn con (3-5 ngày tuổi) 165 165 100
3 Tiêm vaccine Dịch tả lợn (Coglapest) Lợn con (10-15 ngày tuổi) 50 50 100
4 Tiêm vaccine Mycoplasma Lợn con (7-10 ngày tuổi) 65 65 100
5 Gây miễn dịch phòng bệnh (Auto-vaccine dịch PED) Lợn nái 120 114 95
  1. Hiệu quả chẩn đoán và điều trị bệnh ở lợn con:
Tên bệnh Phác đồ điều trị và đường dùng Liệu trình Số con điều trị Số con khỏi (con) Tỷ lệ khỏi (%)
Hội chứng tiêu chảy Nor 100 (1 ml/10 kg TT, tiêm bắp) hoặc Amcoli (1 ml/10 kg TT, tiêm bắp) 3 - 5 ngày 430 342 79,53
Bệnh viêm da Dexamethasone (2 ml/10 kg TT, tiêm bắp) kết hợp bôi dung dịch Xanh methylen ngoài da 3 - 6 ngày 124 103 83,06

Tác giả giải thích tỷ lệ khỏi của bệnh tiêu chảy chỉ đạt 79,53% do đàn lợn con chịu tác động bất lợi của dịch tiêu chảy cấp (PED) bùng phát tại trại trong thời gian này, làm giảm nghiêm trọng sức đề kháng tự nhiên. Bệnh viêm da đạt tỷ lệ khỏi 83,06%; nguyên nhân bệnh lan rộng và kéo dài xuất phát từ việc sau Tết Nguyên đán, giá lợn hơi trên thị trường sụt giảm mạnh khiến lợn con tiêu thụ chậm, dẫn đến tình trạng quá tải chuồng nuôi, lợn cắn nhau gây xước da tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập.

  1. Kết quả một số công việc thú y khác:
    • Đỡ đẻ trực tiếp cho lợn nái: 51 ca, tỷ lệ sơ sinh an toàn 100%. Sau sinh tiêm 2 ml Oxytocin kích thích tống nhau và co hồi tử cung, tiêm kháng sinh Vetrimoxin (1 ml/10 kg TT/ngày) phòng viêm tử cung.
    • Truyền dịch hồi sức (dung dịch Glucose 5%, truyền tĩnh mạch tai 1 lít/con) cho lợn nái mệt mỏi, bỏ ăn sau sinh: 8 con, hồi phục an toàn 7 con (đạt 87,50%), 1 con chết do kiệt sức nặng.
    • Xuất bán lợn con giống: Trực tiếp tham gia xuất bán 630 con đạt tỷ lệ an toàn 100%.

Các đề xuất và giải pháp của tác giả:

  • Duy trì và thực hiện nghiêm ngặt hơn công tác vệ sinh thú y, sát trùng dụng cụ, chuồng trại và kiểm soát khử trùng người, phương tiện trước khi vào trại.
  • Tăng cường các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, quản lý lợn con sơ sinh và lợn con theo mẹ nhằm giảm thiểu tỷ lệ chết hao hụt.
  • Nâng cao vai trò giám sát, hướng dẫn kỹ thuật thường xuyên đối với đội ngũ công nhân chuồng nuôi, do đây là lực lượng tác động trực tiếp hàng ngày đến năng suất và sức khỏe đàn lợn.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc hệ thống hóa và kiểm chứng lâm sàng toàn bộ quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng nái ngoại và lợn con theo chuẩn chăn nuôi công nghiệp C.P. tại cơ sở chăn nuôi quy mô 2.400 nái ở Thái Bình, cung cấp dữ liệu thực nghiệm về tỷ lệ an toàn các thủ thuật thú y sơ sinh và đánh giá hiệu lực của các phác đồ điều trị tiêu chảy, viêm da trong điều kiện có áp lực dịch bệnh thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực tế của đợt thực tập:

  • Phạm vi thời gian theo dõi thực tế kéo dài 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11/2018), chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ biến động dịch bệnh và sinh sản trong toàn bộ các mùa của năm.
  • Công tác phối giống nhân tạo tại chuồng bầu chỉ thu thập được số liệu trong tháng 5 và tháng 6/2018 (do tháng 11 tác giả được phân công luân chuyển nhiệm vụ xuống chuyên trách tại chuồng đẻ, khiến dữ liệu thụ thai không được ghi nhận liên tục).
  • Các can thiệp kỹ thuật ngoại khoa trên đàn con (bấm nanh, bấm tai, cắt đuôi) mới thực hiện được trên 50% số lượng đàn phụ trách (320 con trên tổng số 630 con được phân công).
  • Kết quả điều trị tiêu chảy chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đợt dịch PED bùng phát tại trại, làm sai lệch một phần khả năng đáp ứng độc lập của phác đồ kháng sinh Nor 100 và Amcoli.
  • Yếu tố thị trường ngoài tầm kiểm soát (giá lợn giảm gây ứ đọng lợn con, mật độ nuôi vượt tiêu chuẩn) dẫn đến phát sinh bệnh viêm da thứ phát do cắn xước da.

Hướng mở rộng nghiên cứu từ kết quả của tác giả:

  • Tiếp tục theo dõi các chỉ tiêu năng suất sinh sản (số con sơ sinh, số con cai sữa, số lứa/năm) của đàn nái trên phạm vi thời gian dài hơn (từ 12 đến 24 tháng) để đánh giá tính ổn định qua các mùa khí hậu.
  • Thử nghiệm và so sánh thêm các phác đồ kháng sinh thế hệ mới hoặc bổ sung chế phẩm vi sinh đường ruột nhằm cải thiện tỷ lệ khỏi bệnh tiêu chảy trong điều kiện có dịch PED.
  • Hoàn thiện nghiên cứu quy trình chế tạo và đánh giá đáp ứng miễn dịch của auto-vaccine phòng bệnh PED trên đàn lợn nái chửa tại trại.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn phù hợp cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ thú y thực hiện đồ án tốt nghiệp hoặc chuẩn bị thực tập tại các trang trại nuôi gia công quy mô công nghiệp (mô hình liên kết với C.P. Việt Nam).
  • Kỹ sư chăn nuôi, cán bộ kỹ thuật thú y tại các trại nái sinh sản ngoại (Landrace x Yorkshire) cần tham khảo định mức cám (chuỗi sản phẩm 566, 567, 550), quy trình chuyển cám giảm ăn trước đẻ và lịch phòng bệnh chi tiết từ nái hậu bị, nái chửa đến lợn con theo mẹ.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản là quy trình xử lý dịch tiêu chảy cấp PED (kỹ thuật làm auto-vaccine gây nhiễm nhân tạo trên 120 nái đạt tỷ lệ phản ứng an toàn 95%), quy chuẩn an toàn sinh học "cùng vào - cùng ra", và các thông số cụ thể về liều lượng thuốc trợ lực (Glucose 5%), kháng sinh phòng biến chứng sản khoa (Vetrimoxin, Oxytocin).

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu đàn lợn và quy mô chuồng trại tại cơ sở nghiên cứu trong giai đoạn 2016 - 2018 như thế nào? Tại trại Nhâm Xuân Tiến, tổng diện tích mặt bằng là 10 ha với 6 dãy chuồng đẻ (mỗi dãy 2 ngăn, mỗi ngăn 54 ô), 4 chuồng bầu (mỗi chuồng 560 ô) và chuồng đực 30 ô. Năm 2016 đàn có 2.400 nái sinh sản, 250 nái hậu bị, 37 đực giống (tổng 2.687 con). Năm 2017 có 2.418 nái sinh sản, 245 hậu bị, 37 đực (tổng 2.700 con). Năm 2018 có 2.425 nái sinh sản, 250 hậu bị, 38 đực (tổng 2.713 con).

2. Khẩu phần ăn của lợn nái mang thai và nái chờ đẻ được điều chỉnh cụ thể ra sao theo quy trình của trại? Ở chuồng bầu, nái hậu bị mang thai ăn cám 566 mức 2,2 kg/ngày (tuần 1-4), giảm xuống 1,6 kg/ngày (tuần 5-12), tăng lên 2,2 kg/ngày (tuần 13-14) và 2,2 - 2,5 kg/ngày thức ăn 567 (từ tuần 15). Nái dạ ăn 2,2 kg/ngày (tuần 1-4), 1,6 kg/ngày (tuần 5-12), 2,5 kg/ngày (tuần 13-14) và 2,5 - 3,0 kg/ngày thức ăn 567 (từ tuần 15). Trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày, giảm mỗi ngày 0,5 kg cám hỗn hợp, đến ngày sinh chỉ cho ăn 1,0 kg/con/ngày (nái quá gầy cho ăn 1,5 kg/con/ngày). Sau khi đẻ 2 ngày, tăng dần lượng thức ăn từ 2,0 đến 5,0 kg/con/ngày chia làm 2 bữa.

3. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh tiêu chảy và bệnh viêm da trên lợn con đạt hiệu quả như thế nào? Phác đồ điều trị tiêu chảy dùng Nor 100 (1 ml/10 kg TT tiêm bắp) hoặc Amcoli (1 ml/10 kg TT tiêm bắp) từ 3 - 5 ngày trên 430 con, điều trị khỏi 342 con, tỷ lệ khỏi đạt 79,53% (hiệu quả bị hạn chế do trại bùng phát dịch PED). Phác đồ điều trị viêm da dùng Dexamethasone (2 ml/10 kg TT tiêm bắp) kết hợp bôi Xanh methylen từ 3 - 6 ngày trên 124 con, điều trị khỏi 103 con, tỷ lệ khỏi đạt 83,06%.

4. Trại đã can thiệp những biện pháp thú y nào khi xảy ra dịch tiêu chảy cấp (PED)? Khi phát sinh dịch PED, trại thực hiện truyền dịch sinh lý bổ sung điện giải cho nái bỏ ăn và tiêu chảy; hòa tan dung dịch amoxicillin cho lợn con uống; tăng cường rắc vôi và phun sát trùng; loại bỏ lợn con quá yếu, tiêu hủy lợn chết; đặc biệt triển khai làm auto-vaccine (gây nhiễm nhân tạo) cho 120 lợn nái, thu được 114 nái xuất hiện phản ứng tiêu chảy kiểm soát, đạt tỷ lệ an toàn miễn dịch 95%.

5. Các can thiệp ngoại khoa sơ sinh trên đàn lợn con được tiến hành với số lượng và độ an toàn ra sao? Sinh viên đã trực tiếp thực hiện trên 320 lợn con: mài/bấm 8 răng nanh ở 1 ngày tuổi bằng kìm bấm nanh (an toàn 100%); bấm số tai định danh theo mã trại và tuần đẻ (an toàn 100%); cắt đuôi bằng kéo sát trùng hoặc kéo điện trong vòng 24 giờ sau sinh (an toàn 100%). Ngoài ra, đã tham gia đỡ đẻ an toàn tuyệt đối cho 51 ca lợn nái và xuất bán thành công 630 lợn con giống.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Xuân Hùng đã phản ánh toàn diện việc triển khai quy trình kỹ thuật chăn nuôi, an toàn sinh học và quản lý thú y trên đàn lợn nái Landrace × Yorkshire quy mô hơn 2.400 con tại trại Nhâm Xuân Tiến, tỉnh Thái Bình. Tác giả đã hoàn thành các chỉ tiêu chăm sóc sơ sinh, phối giống nhân tạo, đỡ đẻ và phòng bệnh định kỳ bằng vaccine với tỷ lệ an toàn cao. Đồng thời, văn bản đánh giá khách quan hiệu quả điều trị bệnh tiêu chảy (khỏi 79,53%) và bệnh viêm da (khỏi 83,06%) trên lợn con trong bối cảnh chịu tác động kép từ dịch tiêu chảy cấp PED và biến động thị trường, cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm giá trị cho thực hành thú y trang trại.