MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của công việc sinh viên trực tiếp thực hiện Rừng là tài nguyên phong phú và vô cùng quý giá của đất nước. Tác dụng của rừng đối với nước ta về kinh tế xã hội và môi trường rất đa dạng. Nhưng rừng nước ta đã bị tàn phá nặng nề bởi cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Hiện nay cùng với diện tích rừng đã bị mất, chất lượng rừng còn lại tiếp tục giảm sút; trữ lượng rừng thấp, nhiều loài cây gỗ quý trở nên hiếm, nhiều loại động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng, khả năng cung cấp của rừng không đáp ứng được, nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Mặt khác năng lực phòng hộ của rừng cũng bị hạn chế, thiên tai lũ lụt ngày càng nghiêm trọng. Trước thực trạng này, việc trồng rừng, phục hồi rừng trở nên cấp bách cần được quan tâm đúng mức của Nhà nước và toàn xã hội trong đó có các nhà lâm nghiệp. Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về chương trình phát triển lâm nghiệp như thực hiện chính sách phủ xanh đất trống đồi núi trọc, diện tích che phủ của rừng được tăng lên đáng kể, tính đến năm 2015 độ che phủ trong cả nước đạt 40,84%.
Các tỉnh thành phố trong cả nước đều thực hiện chủ trương này của Nhà nước. Nhưng do điều kiện tự nhiên mỗi tỉnh là khác nhau nên mỗi vùng có các loài cây đặc trưng khác nhau. Do đó vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao có thể phân bố loài cây trồng phù hợp với điều kiện kinh tế, đất đai, khí hậu của mỗi vùng, khu vực nhất định để phát huy tối đa tiềm năng của đất rừng đang là vấn đề khó khăn cho nhà quản lý và người trồng rừng. Nhiều khu vực quy hoạch cây trồng không thích hợp làm cho cây dễ mắc bệnh, kém năng suất, hiệu quả về kinh tế và môi trường không cao.
c 2 Huyện Quang Bình , tỉnh Hà Giang có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp khoảng 50,163.Đất đai thích hợp cho cây trồng lâm nghiệp là chủ yếu, nhưng năng suất và chất lượng rừng trồng thấp, cây kém phát triển, trữ lượng không cao. Nếu với trữ lượng thấp hiệu quả về kinh tế và môi trường không cao như hiện nay thì người dân sẽ không mặn mà với nghề rừng, dẫn đến nguy cơ diện tích lâm nghiệp sẽ bị lấn chiếm để canh tác nông nghiệp và trồng cây công nghiệp. Mặt khác, do bố trí cây trồng không hợp lý làm cho diện tích độ che phủ mặt đất giảm thiểu sẽ làm cho hiện tượng xói mòn diễn ra nhanh chóng. Do đó vấn đề đặt ra hiện nay làm sao có thể lựa chọn cây trồng sao cho phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, khu vực nhất định đang là vấn đề hết sức khó khăn cho nhà quản lý và người trồng rừng.
Trong quá trình trồng rừng cũng như trồng các loài cây khác người dân chỉ trồng theo cảm tính hoặc chủ trương của huyện chứ chưa tìm hiểu loài cây đó có thích nghi với điều kiện sinh thái và mang lại hiệu quả về kinh tế và môi trường tại khu vực trồng hay không. Nhận thức được tính cấp thiết của việc lựa chọn loài cây trồng hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế cũng như góp phần cải thiện môi trường sinh thái tại địa phương được tốt hơn, vì vậy tiến hành thực hiện đề tài: “Quy hoạch loài cây trồng rừng thích nghi cho huyện Quang Bình” được hình thành là hết sức cần thiết. Mục tiêu và yêu cầu công việc sinh viên trực tiếp thực hiện - Điều tra, phân tích quá trình phát triển cây trồng rừng trong những năm qua, làm rõ những tồn tại, hạn chế, lợi thế phát triển cây trồng rừng của huyện Quang Bình. - Xác định các chỉ tiêu chính về phát triển cây trồng lâm nghiệp theo hướng nguyên liệu, có hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.
c 3 - Xây dựng bản đồ thích nghi các loài cây trồng rừng chính trên địa bàn huyện Quang Bình. - Quy hoạch và phát triển một số loài cây trồng rừng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng trên địa bàn huyện Quang Bình. c 4 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan tài liệu về vấn đề thực hiện 2.
Trên thế giới Những thay đổi về môi trường trên toàn cầu cũng như trong từng khu vực, quốc gia đã đòi hỏi ngành lâm nghiệp xem xét việc quy hoạch và tổ chức sản xuất kinh doanh rừng, thực tế cho thấy khoa học về tổ chức rừng này không chỉ đơn thuần là khoa học thuần túy về cấu trúc, sản lượng, sinh vật học rừng mà còn liên quan đến yếu tố xã hội, kinh tế, môi trường. Bước sang nhưng năm 1970 nhiều quốc gia đã phát triển hệ thống đánh giá đất đai. Ở Mỹ, việc đánh giá đất đai được thực hiện trong các chương trình của Bộ Nông nghiệp Mỹ. Ở Châu Âu, đã diễn ra nhiều cuộc thảo luận đầu tiên ra đời (FAO 1972).
Sau đó được Briskiman và Smith soạn lại. Năm 1975 cuộc thảo luận đi đến thống nhất hình thành nội dung phương pháp đầu tiên của FAO về đánh giá đất đai. Những năm sau đó công tác đánh giá đất đai được tiến hành bởi các chuyên gia. Năm 1984, Bohlin đề xuất yêu cầu của hệ thống thông tin cho quy hoạch trồng rừng.
Lund và Soda đã đưa hệ thống thông tin cần thiết cho quy hoạch xây dựng rừng. Những kết quả phân tích hệ thống canh tác là một công cụ quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp địa phương. Hiện nay trên thế giới có hai trường phái quy hoạch chính sau: - Tiến hành quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội đảm bảo hài hòa sự phát triển đa mục tiêu, sau đó mới đi sâu nghiên cứu quy hoạch chuyên ngành, tiêu biểu cho trường phái này là Đức và Úc. - Một số nước khác thì sử dụng phương pháp quy hoạch sử dụng đất mang tính đặc thù và riêng biệt.
Ở Pháp, quy hoạch sử dụng đất được xây dựng theo c 5 hình thức mô hình hóa nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao; Ở Hungari, quy hoạch sử dụng đất được coi là vấn đề đặc biệt tồn tại. Sự thay đổi từ một hệ thống tập trung sang cơ chế lập quy hoạch phi tập trung cùng với việc hướng tới tư nhân hóa mang lại những thay đổi lớn về kinh tế, cơ cấu, tổ chức và xã hội. - Như ở Philippin có: 3 cấp lập quy hoạch, cụ thể cấp quốc gia sẽ hình thành những chỉ đạo chung, cấp vùng triển khai một khung chung cho quy hoạch theo vùng và cấp quận, huyện chịu trách nhiệm triển khai các đồ án tác nghiệp. - Ở Thái Lan, việc quy hoạch đất đai được phân theo 3 cấp: Quốc gia, vùng và á vùng hay địa phương.
Từ những thực tế trên, quy hoạch sử dụng đất đai đã và đang là tiền đề cho việc phát triển quy hoạch lâm nghiệp. Chính vì vậy mà hệ thống hoàn chỉnh về mặt lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã được hình thành. Trong nước Ở nước ta, quy hoạch được người Pháp áp dụng thử nghiệm thông qua các mô hình rừng trồng. Từ năm những năm 60, ở miền Bắc đã bắt đầu công tác quy hoạch tổng thể về Lâm nghiệp, trong khi đó ở miền Nam thực hiện các mô hình thử nghiệm điều chế rừng.
Sau năm 1975, hình thành các Liên hiệp Lâm nghiệp, các Lâm trường trong cả nước đã tiến hành các cuộc tổng kiểm kê tài nguyên rừng và xây dựng phương án quy hoạch Lâm nghiệp cho từng cấp lãnh thổ, trong đó chú trọng tới các đơn vị trực tiếp kinh doanh lâm nghiệp như Liên hiệp Lâm nghiệp, Lâm trường. Giai đoạn này, phương án Quy hoạch Lâm nghiệp được xem là yếu tố pháp lý để tổ chức sản xuất kinh doanh cho một đơn vị lâm nghiệp. Tuy nhiên, thực tế khó thực thi, do quá trình xây dựng phương án chưa phản ánh được thực trạng nhu cầu xã hội hoặc do cơ sở dữ liệu có độ tin cậy quá thấp, đồng thời với nó là sự tách biệt cộng đồng dân cư trong các hoạt động kinh doanh, quản lý bảo vệ rừng, dẫn đến c 6 phương án quy hoạch kém hiệu quả, rừng vẫn bị mất. Bắt đầu những năm 80 của thế kỷ 20, chúng ta bắt đầu chú trọng vào khoa học điều chế rừng, tức là tổ chức rừng khoa học hơn về không gian và thời gian, tránh kinh doanh rừng không hiệu quả, làm mất rừng.
Dựa vào phương án quy hoạch, hầu hết các Lâm trường đều phải xây dựng phương án điều chế rừng và hàng năm đều có các thiết kế sản xuất. Hoạt động này đã đóng góp tích cực vào việc quản lý kinh doanh gỗ ổn định hơn, tuy nhiên về kỹ thuật các phương án này ở mức đơn giản. Thực tế cho thấy quy hoạch lâm nghiệp có tính xã hội sâu sắc, chúng ta cần quan tâm hơn đến kiến thức bản địa, năng lực, nguồn lực tại chỗ để xây dựng một kế hoạch kinh doanh rừng khả thi và có hiệu quả hơn trong đó chú ý đến vai trò của cộng đồng, người dân, những kinh nghiệm cũng như sự tham gia của họ, và kinh doanh rừng phải đóng góp vào việc nâng cao đời sống của cư dân sống gần rừng.[5] Trong những năm gần đây, khoa học quy hoạch rừng đang tiếp tục được phát triển để phù hợp với những yêu cầu mới của xã hội hiện đại, trong đó xem xét một cách toàn diện hơn việc tổ chức nghề rừng trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo ba yêu cầu cơ bản là bền vững về kinh tế - xã hội và môi trường. Sự hình thành và phát triển của quy hoạch loài cây trồng rừng thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng cho một vùng luôn gắn liền với quy hoạch lâm nghiệp, sự phát triển kinh tế - xã hội và kinh doanh rừng.
Mới đầu, chủ yếu là kinh rừng theo hướng cảm tính “thích cây gì thì trồng cây đấy” mà chưa chú trọng tới các cơ sở khoa học. Trong những năm gần đây với thực tiễn trồng rừng, người ta nhận ra rằng mỗi loài cây chỉ thích nghi với một điều kiện sinh thái nhất định, vì vậy cần phải lựa chọn loài cây trồng hợp lý cho từng vùng c 7 để việc tổ chức sản xuất lâm nghiệp có thể mang lại hiệu quả cao về mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Chính vì vậy, Quy hoạch loài cây trồng rừng thích nghi được hình thành. Tổng quan về cơ sở thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên 2.