Tổng quan nghiên cứu

Khu vực kinh tế tập thể, với nòng cốt là mô hình hợp tác xã, đóng vai trò nền tảng trong chiến lược phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Bước sang thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, việc chuyển đổi từ mô hình hợp tác xã kiểu cũ sang mô hình hợp tác xã kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012 là yêu cầu tất yếu nhằm khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ và thiếu liên kết. Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề bất cập giữa quy định pháp lý hiện hành với thực tiễn thành lập, tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của hợp tác xã tại một địa bàn trọng điểm nông - thủy sản.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận về địa vị pháp lý, nguyên tắc tổ chức quản trị hợp tác xã; phân tích thực trạng thực thi các quy định pháp luật; đánh giá các rào cản hành chính, tài chính và năng lực quản lý; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác xã. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2018, gắn liền với khảo sát thực tiễn tại tỉnh Cà Mau – địa phương có diện tích tự nhiên 5.294,87 km² (chiếm 12,97% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long) với hơn 266.735 ha đất nuôi trồng thủy sản và 129.204 ha đất trồng lúa.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm thúc đẩy hiệu quả quản trị cho 184 hợp tác xã trên địa bàn, bảo đảm quyền bình đẳng với tỷ lệ 100% phiếu biểu quyết ngang nhau cho các thành viên và nâng cao tỷ lệ liên kết chuỗi giá trị nông sản chủ lực từ mức dưới 20% lên trên 50% trong giai đoạn tái cơ cấu nông nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Lý thuyết Kinh tế tập thể hiện đại và Hệ thống nguyên tắc Hợp tác xã quốc tế do Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA) xác lập từ năm 1895. Lý thuyết này chỉ rõ bản chất kép của hợp tác xã: vừa là một tổ chức kinh tế tự chủ hoạt động trong cơ chế thị trường, vừa mang tính xã hội sâu sắc nhằm tương trợ thành viên thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho các nhà đầu tư sở hữu nhiều vốn.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Quản trị pháp lý tổ chức kinh tế đặc thù để phân tích các khái niệm trọng tâm:

  • Khái niệm hợp tác xã kiểu mới: Tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân theo quy định tại Điều 3 Luật Hợp tác xã năm 2012.
  • Quyền sở hữu tập thể và đồng sở hữu: Tài sản hình thành từ vốn góp của thành viên, nguồn thu nhập không chia và các khoản hỗ trợ không hoàn lại của Nhà nước.
  • Nguyên tắc dân chủ và bình đẳng trong quản lý: Cơ chế biểu quyết một thành viên một phiếu không phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp.
  • Phân phối thu nhập theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ: Bản chất cốt lõi phân biệt hợp tác xã với doanh nghiệp thương mại thông thường.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm hai kênh chính: dữ liệu thứ cấp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Hợp tác xã năm 2012, Nghị định số 193/2013/NĐ-CP, Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT, Bộ luật Dân sự năm 2015) và dữ liệu thực chứng từ các báo cáo tổng kết giai đoạn 2014-2017 của Liên minh Hợp tác xã tỉnh Cà Mau, Niên giám Thống kê tỉnh Cà Mau.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 184 hợp tác xã và 1.045 tổ hợp tác đăng ký hoạt động trên địa bàn 9 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Cà Mau. Phương pháp chọn mẫu kết hợp giữa khảo sát toàn diện dữ liệu quản lý nhà nước với chọn mẫu điển hình có chủ đích tại các đơn vị thực hiện sáp nhập điểm như huyện Thới Bình (hợp nhất 4 hợp tác xã thành Hợp tác xã Phước Tiền), huyện U Minh và huyện Năm Căn.

Phương pháp phân tích chủ đạo là phân tích quy phạm pháp luật thực định kết hợp so sánh luật học (đối chiếu Luật Hợp tác xã năm 2003 và năm 2012) cùng phương pháp thống kê mô tả, phân tích định lượng kết hợp định tính. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đánh giá chính xác mức độ tương thích giữa quy định pháp luật mang tính trừu tượng với các điều kiện vận hành kinh tế - xã hội đặc thù của vùng đồng bằng ngập mặn ven biển trong khung thời gian từ năm 2014 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về quy mô và cơ cấu tổ chức bộ máy, tính đến cuối năm 2017, toàn tỉnh Cà Mau có 184 hợp tác xã đang hoạt động. Trong đó, có 174 hợp tác xã thuộc lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp (chiếm 94,56%). Đánh giá phân loại chất lượng hoạt động cho thấy 153 hợp tác xã đạt loại khá tốt (chiếm 83,15%) và 31 hợp tác xã xếp loại trung bình (chiếm 16,85%), không có hợp tác xã xếp loại yếu kém kéo dài.

Thứ hai, về tốc độ kết nạp thành viên và công tác đào tạo quản trị, trong năm 2017, toàn tỉnh đã vận động thành lập mới thành công 13 hợp tác xã, đạt tỷ lệ kết nạp vào Liên minh Hợp tác xã tỉnh là 13/13 đơn vị (100%). Nguồn ngân sách địa phương đã chi 833 triệu đồng để tổ chức 42 lớp bồi dưỡng cho 2.066 lượt cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ chủ chốt cấp xã và kiểm soát viên hợp tác xã.

Thứ ba, sự chuyển dịch mô hình thông qua xu thế hợp nhất và tinh gọn tổ chức. Điển hình tại huyện Thới Bình, việc sáp nhập 4 hợp tác xã nông nghiệp quy mô nhỏ thành 1 Hợp tác xã Phước Tiền đã giúp tăng vốn điều lệ, mở rộng quy mô dịch vụ cung ứng và nâng mức thu nhập của thành viên lên khoảng 15% so với mô hình hoạt động phân tán trước đây.

Thứ tư, sự sàng lọc và chuyển đổi của các tổ hợp tác. Số lượng tổ hợp tác trên địa bàn tỉnh đạt 1.045 tổ (gồm 887 tổ nông nghiệp và 158 tổ phi nông nghiệp), giảm 278 tổ so với năm 2016. Sự sụt giảm này phản ánh xu thế tích cực khi các tổ hợp tác làm ăn kém hiệu quả tự giải thể hoặc tích tụ điều kiện để nâng cấp lên mô hình hợp tác xã chính quy.

Thảo luận kết quả

Kết quả khảo sát khẳng định Luật Hợp tác xã năm 2012 đã tạo hành lang pháp lý chuẩn xác khi bãi bỏ quy định hợp tác xã hoạt động như doanh nghiệp, định vị đúng bản chất phục vụ thành viên. Sự gia tăng 83,15% hợp tác xã đạt loại khá tốt là minh chứng cho thấy sự thích ứng tích cực với cơ chế thị trường.

Để làm rõ bức tranh chuyển dịch này, dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua Bảng phân loại năng lực quản trị 184 hợp tác xã và Biểu đồ cột thể hiện mức độ suy giảm 278 tổ hợp tác tương ứng với tốc độ tăng trưởng của các hợp tác xã quy mô lớn sáp nhập theo chuỗi giá trị.

Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra những rào cản pháp lý và thực tiễn:

  • Xung đột thẩm quyền quản lý: Sự phân định quyền hạn giữa Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành theo Điều 35 và Điều 38 Luật Hợp tác xã năm 2012 còn lúng túng khi hợp tác xã thuê giám đốc điều hành bên ngoài.
  • Rào cản tiếp cận nguồn vốn: Quy định về bảo đảm tiền vay và tỷ lệ giao dịch dịch vụ nội bộ (tối thiểu 50-80% theo Nghị định số 193/2013/NĐ-CP) khiến nhiều hợp tác xã gặp khó khăn khi mở rộng thị trường ra ngoài cộng đồng thành viên.
  • Chuỗi liên kết yếu: Hơn 80% nông sản chủ lực (tôm, lúa) xuất bán ở dạng thô, thiếu thương hiệu và bao bì đạt chuẩn xuất khẩu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật về cơ chế đại diện và phân định thẩm quyền quản trị. Đề nghị sửa đổi, bổ sung các thông tư hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhằm quy định rõ hợp đồng lao động mẫu và ranh giới ủy quyền giữa Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc thuê ngoài. Mục tiêu chuẩn hóa 100% điều lệ mẫu cho các hợp tác xã thành lập mới trong giai đoạn 2018-2020. Chủ thể thực hiện: Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.

Thứ hai, mở rộng cơ chế tiếp cận tín dụng và hỗ trợ vốn ưu đãi. Triển khai đồng bộ Quyết định số 55/2016/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau về khuyến khích doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Nâng tỷ lệ hợp tác xã được vay vốn từ Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã lên mức tối thiểu 50% vào năm 2020. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, Sở Tài chính và Ngân hàng Chính sách Xã hội.

Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản trị hợp tác xã. Duy trì ngân sách đào tạo tối thiểu 1 tỷ đồng mỗi năm, mở rộng quy mô trên 50 lớp tập huấn chuyên sâu về quản trị tài chính, kế toán và kiểm soát nội bộ. Đảm bảo 100% cán bộ lãnh đạo hợp tác xã nông nghiệp được chuẩn hóa trình độ trung cấp chuyên nghiệp trở lên trước năm 2022. Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Liên minh Hợp tác xã tỉnh Cà Mau.

Thứ tư, thúc đẩy phát triển liên kết chuỗi giá trị và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu nông sản. Hỗ trợ 100% hợp tác xã sản xuất lúa - tôm trọng điểm đăng ký nhãn hiệu tập thể, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, phấn đấu nâng tỷ lệ sản phẩm qua chế biến sâu đạt trên 40% giá trị thương mại vào năm 2025. Chủ thể thực hiện: Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương tỉnh Cà Mau.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý hợp tác xã và các sáng lập viên: Cung cấp cẩm nang chi tiết về thủ tục thành lập, cơ cấu tổ chức bộ máy Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và phương án phân phối thu nhập chuẩn xác theo luật định.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và Liên minh Hợp tác xã các cấp: Nguồn tư liệu thực chứng phản ánh các vướng mắc tại địa phương, hỗ trợ việc hoạch định chính sách đào tạo, phân bổ ngân sách 833 triệu đồng/năm và xây dựng chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể giai đoạn tiếp theo.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật Kinh tế: Tài liệu chuyên khảo phục vụ học tập, nghiên cứu về mô hình chủ thể kinh doanh đặc thù, cơ chế đồng sở hữu và giải quyết xung đột pháp lý trong quản trị hợp tác xã.
  • Luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý: Bộ hướng dẫn chuẩn hóa quy trình soạn thảo điều lệ, hợp đồng dịch vụ nội bộ và thủ tục sáp nhập, hợp nhất các tổ chức kinh tế tập thể theo đúng chuẩn mực pháp lý hiện hành.

Câu hỏi thường gặp

Theo Luật Hợp tác xã năm 2012, điều kiện số lượng thành viên tối thiểu để thành lập hợp tác xã là bao nhiêu? Điều 3 Luật Hợp tác xã năm 2012 quy định hợp tác xã phải do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập. Đối với Liên hiệp hợp tác xã, số lượng tối thiểu là 04 hợp tác xã thành viên. Quy định này nhằm đảm bảo tính tập thể và năng lực quy mô tối thiểu cho hoạt động sản xuất kinh doanh tương trợ.

Người nước ngoài có quyền tham gia thành lập và trở thành thành viên hợp tác xã tại Việt Nam không? Có. Theo điểm a khoản 1 Điều 13 Luật Hợp tác xã năm 2012, cá nhân là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được quyền tham gia hợp tác xã, miễn là tuân thủ các quy định pháp luật về đầu tư trong các ngành nghề có điều kiện.

Nguyên tắc biểu quyết trong hợp tác xã có dựa trên tỷ lệ vốn góp như công ty cổ phần hay không? Không. Khoản 3 Điều 7 và khoản 13 Điều 34 Luật Hợp tác xã năm 2012 xác lập nguyên tắc bình đẳng tuyệt đối: mỗi thành viên hoặc đại biểu tham dự Đại hội thành viên có duy nhất một phiếu biểu quyết với giá trị ngang nhau, hoàn toàn không phụ thuộc vào số vốn đã góp hay chức vụ nắm giữ.

Hợp tác xã có quy mô bao nhiêu thành viên thì bắt buộc phải thành lập Ban kiểm soát thay vì một kiểm soát viên? Căn cứ khoản 1 Điều 39 Luật Hợp tác xã năm 2012, hợp tác xã có từ 30 thành viên trở lên bắt buộc phải bầu Ban kiểm soát với số lượng không quá 7 người. Đối với hợp tác xã có dưới 30 thành viên, việc thành lập Ban kiểm soát hay chỉ bầu một kiểm soát viên chuyên trách do Điều lệ hợp tác xã tự định đoạt.

Lợi nhuận sau thuế của hợp tác xã được phân phối dựa trên căn cứ cốt lõi nào? Theo khoản 5 Điều 7 Luật Hợp tác xã năm 2012, sau khi trích lập các quỹ bắt buộc, thu nhập còn lại của hợp tác xã được phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp, không chia thuần túy theo tỷ lệ góp vốn như doanh nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và hoàn thiện hệ thống khái niệm về mô hình hợp tác xã kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012.
  • Làm rõ thực trạng tổ chức và hoạt động của 184 hợp tác xã trên địa bàn Cà Mau với tỷ lệ 83,15% đơn vị hoạt động khá tốt và bước đầu hình thành các mô hình sáp nhập điểm như Hợp tác xã Phước Tiền.
  • Nhận diện chính xác các khoảng trống pháp lý về xung đột quản trị giữa Hội đồng quản trị và Giám đốc, rào cản tiếp cận vốn vay và hạn chế liên kết chuỗi giá trị tôm - lúa.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với các mốc thời gian cụ thể từ năm 2018 đến năm 2025, định hướng trách nhiệm cho từng cơ quan quản lý chuyên ngành.
  • Kêu gọi các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý địa phương và các nhà nghiên cứu tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện khung khổ pháp lý, tạo động lực đưa kinh tế tập thể trở thành trụ cột vững chắc của nền kinh tế đất nước.