Chương I Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/04/2005 thì việc không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ đã có yêu cầu thanh toán được hiểu cụ thể như sau: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Có các khoản nợ đến hạn: Các khoản nợ đến hạn phải là các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần (chỉ tính phần không có bảo đảm) đã rõ ràng được các bên xác nhận, có đầy đủ giấy tờ, tài liệu để chứng minh và không có tranh chấp. - Chủ nợ đã có yêu cầu thanh toán nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán. Yêu cầu của chủ nợ thanh toán các khoản nợ đến hạn phải có căn cứ chứng minh là chủ nợ đã có yêu cầu, nhưng không được doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán (như văn bản đòi nợ của chủ nợ, văn bản khất nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã. Nghiên cứu dấu hiệu mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, về phương diện lý luận cũng như thực tiễn cần xem xét một số khía cạnh cụ thể sau: Thứ nhất, mất khả năng thanh toán không có nghĩa là doanh nghiệp, hợp tác xã hoàn toàn cạn kiệt tài sản.
Doanh nghiệp có thể còn rất nhiều tài sản mà vẫn mất khả năng thanh toán, chỉ vì tài sản đó không thể bán được, cho nên doanh nghiệp không có tiền để thanh toán các khoản nợ. Thứ hai, mất khả năng thanh toán không chỉ là hiện tượng doanh nghiệp không thanh toán được nợ mà nó còn thể hiện doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng tài chính tuyệt vọng, trừ khi có sự can thiệp của tòa án hoặc sự giúp đỡ của các chủ nợ. Thứ ba, đối với doanh nghiệp tư nhân, nếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh có giao kết bất kì hợp đồng nào mà sau đó phát sinh ra các khoản nợ thì các khoản nợ này được coi là cơ sở để đánh giá tình trạng phá sản của doanh nghiệp. Nhưng ở đây cũng cần phân biệt với các khoản nợ cho do chủ doanh nghiệp tư nhân xác lập trên cơ sở những hợp đồng phục vụ cho sinh hoạt cá nhân hoặc gia đình họ vì nó không xuất phát từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ tư, pháp luật không nhất thiết quy định cụ thể mất khả năng thanh toán một khoản nợ bao nhiêu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản, bởi vì tình hình tài chính trong các doanh nghiệp rất khác nhau, có thể có những doanh nghiệp nợ vài ba chục triệu nhưng không có cách gì để trả, trong lúc có những doanh nghiệp nợ tới vài ba trăm triệu vẫn có khả năng thanh toán bình thường. Thứ năm, bản chất của việc mất khả năng thanh toán có thể không trùng với biểu hiện bên ngoài là trả được nợ hay không. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhiều doanh nghiệp không trả được nợ nhưng điều này chỉ có tính chất nhất thời trong khi mọi hoạt động của doanh nghiệp vẫn diễn ra bình thường. Ngược lại, có những doanh nghiệp sự trả nợ chỉ là trá hình, che đậy tình trạng tài chính tuyệt vọng của doanh nghiệp, họ phải sử dụng nhiều phương tiện gian trá để bù đắp ngân quỹ như vay nặng lãi, thế chấp tài sản nhiều lần để vay vốn ngân hàng.
Do đó, về cơ bản khi con nợ ngừng trả nợ thì coi như đã lâm vào tình trạng phá sản và lúc đó, các chủ nợ đã có cơ sở pháp lí để làm đơn yêu cầu Tòa án thụ lý và giải quyết vụ việc phá sản mà họ là nguyên đơn. Tóm lại, theo quy định của pháp luật Việt Nam, phá sản là khái niệm dùng để chỉ doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với dấu hiệu đặc trưng nhất là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Tuy nhiên, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chưa hẳn đã bị phá sản. doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản chỉ được coi là bị phá sản khi đã tiến hành thủ tục tuyên bố phá sản.
Phá sản có một số đặc điểm sau đây: * Phá sản là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề của đời sống xã hội. Vấn đề đầu tiên dễ nhận thấy, nhưng rất khó giải quyết ở mọi quốc gia đó là vấn đề thất nghiệp của những người làm công ăn lương ở các doanh nghiệp bị phá sản gây ra nhiều hậu quả đối với xã hội. Xét về mặt này thì phá sản là hiện tượng thuộc lĩnh vực xã hội. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mỗi khi một doanh nghiệp bị phá sản, thì những doanh nghiệp bạn hàng cũng chịu ảnh hưởng xấu theo kiểu dây chuyền.
Đối với các doanh nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, trang thiết bị các dịch vụ. cho doanh nghiệp bị phá sản thì không bán được hàng, gây ảnh hưởng xấu tới sản xuất kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp tiêu thụ và sử dụng các dịch vụ của doanh nghiệp bị phá sản thì không được cung cấp các sản phẩm, dịch vụ vốn là đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo và từ đó có ảnh hưởng tới tiến trình sản xuất, kinh doanh của xã hội nói chung. Xét về mặt này, thì phá sản là một hiện tượng thuộc lĩnh vực kinh tế.
Tính phức tạp của phá sản thể hiện ở chỗ việc giải quyết phá sản liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật. Khi doanh nghiệp bị phá sản thì thường phải nhờ đến Tòa án xét xử, giải quyết các vấn đề về công nợ nếu người lao động và chủ doanh nghiệp không hòa giải được với nhau vì vậy phá sản liên quan đến dân luật. Trong quá trình giải quyết phá sản, nhiều chủ doanh nghiệp (con nợ) cố ý gian lận hoặc tẩu tán tài sản của mình để trốn nợ và bị xử lý theo pháp luật. Xét về mặt này, phá sản liên quan đến hình luật.
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, mỗi khi bị thiếu vốn các doanh nghiệp thường phải vay tiền của Ngân hàng, của các tổ chức tín dụng hoặc các chủ thể khác và thường phải có tài sản bảo đảm như cầm cố, thế chấp v. Khi xử lý và thanh toán tài sản phá sản cho các chủ nợ thì pháp luật các nước đều có các quy định đảm bảo cho quyền lợi của bên nhận cầm cố, thế chấp. Như vậy phá sản có liên quan đến lĩnh vực Ngân hàng và pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ. Nếu vật cầm cố là bất động sản, thì phá sản liên quan đến luật sở hữu đất đai và luật kinh doanh nhà đất.
Ngoài ra khi các doanh nghiệp đứng ra kinh doanh một mặt hàng hay dịch vụ nào đấy thì đểu phải xin phép kinh doanh và phải chịu thuế theo luật định và khi bị phá sản thì phải khai báo với cơ quan có trách nhiệm để chấm dứt nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ xã hội khác. Xét về mặt này, thì phá sản liên quan đến luật thương mại và các luật thuế. Nếu doanh nghiệp là của nước 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngoài hay liên doanh với nước ngoài thì việc giải quyết phá sản lại liên quan đến luật đầu tư nước ngoài và pháp luật về ngoại kiều và khi doanh nghiệp bị phá sản, số lao động thất nghiệp lại tăng lên thì phá sản có liên quan đến luật lao động và bảo đảm xã hội v. * Thủ tục giải quyết phá sản là một thủ tục tố tụng tư pháp đặc biệt.
Khác với thủ tục giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự, thủ tục giải quyết phá sản (tố tụng phá sản) được coi là một thủ tục tố tụng tư pháp đặc biệt. Do tính chất đặc biệt này nên trong pháp luật tố tụng các nước, thủ tục phá sản bao giờ cũng được điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản pháp luật riêng biệt. Tính chất đặc biệt của thủ tục phá sản được thể hiện ở những điểm sau đây: Thứ nhất, thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể. Doanh nghiệp với tư cách là một chủ thể pháp luật có thể tham gia vào rất nhiều quan hệ xã hội khác nhau.
Trong quan hệ giao kết hợp đồng, doanh nghiệp có quyền khởi kiện lên Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình khi bị bên đối tác vi phạm. Như vậy, đặc điểm nổi bật của tố tụng dân sự là việc các chủ doanh nghiệp thực hiện quyền đòi nợ một cách độc lập, riêng lẻ. Trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, các chủ nợ không thể tách ra để đòi nợ riêng, mà tất cả phải tập hợp lại thành một chủ thể pháp lý duy nhất, gọi là Hội nghị chủ nợ. Hội nghị chủ nợ đại diện cho tất cả các chủ nợ để tham gia vào việc giải quyết phá sản.
Khi bị áp dụng thủ tục thanh lý thì toàn bộ tài sản của con nợ được đưa vào một quỹ chung dùng để trả cho các con nợ theo một thứ tự ưu tiên nhất định đã được pháp luật phá sản quy định trước. Nếu tài sản của con nợ không đủ để thanh toán tất cả các khoản nợ thì các chủ nợ được thanh toán theo tỷ lệ giữa khoản nợ mà doanh nghiệp phá sản còn thiếu với tài sản còn lại của doanh nghiệp [33, tr. Thứ hai, thủ tục phá sản là thủ tục đòi nợ được tiến hành trong một hoàn cảnh đặc biệt, như một biện pháp cuối cùng của quá trình đòi nợ. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nếu như thủ tục đòi nợ thông thường (đòi nợ thông qua việc khiếu nại ra Tòa án) có thể được tiến hành bất cứ lúc nào thì thủ tục phá sản chỉ được tiến hành khi doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, dường như không có lối thoát mà người ta thường gọi là tình trạng phá sản.
Nói cách khác, thủ tục phá sản là thủ tục không dễ gì xảy ra, nó chỉ xuất hiện như một giải pháp cuối cùng khi mà các phương thức đòi nợ thông thường đã trở nên bất lực [33, tr. Thứ ba, thủ tục phá sản là thủ tục mà hậu quả của nó thường là sự chấm dứt hoạt động của một thương nhân.