LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước là khởi nguồn của sự sống, là phần cấu thành quan trọng của tất cả mọi sinh vật cũng như con người trên thế giới. Hơn 70% diện tích của Trái đất được bao phủ bởi nước. Lượng nước trên trái đất vào khoảng 1,38 tỉ km3 nhưng đa số là nước mặn trong các đại dương trên thế giới, phần còn lại: 2,6% là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới dạng băng tuyết đóng ở 2 cực và trên các ngọn núi, chỉ có 0,3% nước trên thế giới (xấp xỉ 3,6 triệu km3) là có thể sử dụng làm nước uống [56].
Theo Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 (Bộ Tài nguyên và Môi trường (BộTN&MT), 2005) Việt Nam có khoảng 2.372 con sông lớn nhỏ có chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có 109 sông chính. 9 con sông (sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang - Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, dông Vu Gia – Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai và sông Cửu Long) và 4 nhánh sông (sông Đà, sông Lô, sông Sê San, sông Serepok) đã tạo nên một vùng lưu vực trên 10.000 km2, chiếm khoảng 93% tổng diện tích của mạng lưới sông ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có rất nhiều các loại hồ tự nhiên và hàng ngàn các hồ đập nhân tạo với tổng sức chứa lên đến 26 tỷ m3 nước. Với sự ưu ái của thiên nhiên này giúp Việt Nam có nguồn cung cấp nước dồi dào (255 tỷ m3/năm) [47].
Nhờ trữ lượng nước dồi dào, hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt khiến Việt Nam có ưu thế rất lớn trong việc phát triển mạng lưới thuỷ điện, thuỷ lợi, giao thông đường thuỷ và nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên trên thực tế, nguồn nước có thể sử dụng ngay không phải là vô tận do sự phân bố không đồng đều. Hơn nữa, hàng loạt những hoạt động của con người, những yếu tố tác động cả khách quan và chủ quan đang ngày càng gia tăng áp lực đối với môi trường nước nói chung, tài nguyên nước nói riêng. Hệ luỵ tất yếu của sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, của sự gia tăng dân số đó là tình trạng ô 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiễm nguồn nước nặng nề.
Nước đang ngày càng cạn kiệt về số lượng, suy giảm về chất lượng. Việc quản lý nguồn tài nguyên nước tại Việt Nam đang gặp phải nhiều thách thức lớn. Điều đó đòi hỏi Việt Nam cũng như các nước trên thế giới cần phải tìm các phương thức thích hợp để bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước của mình; khai thác và sử dụng nước phải bảo đảm cả ba mục tiêu kinh tế, phát triển xã hội và sự toàn vẹn của môi trường. Trong những năm gần đây, quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam với cách tiếp cận quản lý tài nguyên nước tổng hợp và dựa trên lưu vực đã được đẩy mạnh; việc quản lý lưu vực sông trở thành một trong những nội dung chủ yếu của quản lý tài nguyên nước và các lưu vực sông đã được xem là cơ sở để lập quy hoạch và quản lý.
Quản lý lưu vực sông là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước. Kể từ sau Hội nghị Dublin và Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển của thế giới họp tại Rio de Janero (Brazin,1992) phần lớn các nước trên thế giới đều áp dụng phương thức quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông. Đối với Việt Nam, thực hiện quản lý nước theo lưu vực sông là một xu thế và định hướng tất yếu. Tuy nhiên nó cũng là một vấn đề rất mới và việc thực hiện trong thực tế gặp rất nhiều khó khăn.
Mặc dù vậy, việc tiếp cận kinh nghiệm của các nước trên thế giới và nghiên cứu vận dụng cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội lại là một lợi thế lớn cho Việt Nam. Việc thực hiện quản lý nước theo lưu vực sông luôn gắn với việc thành lập trên lưu vực một tổ chức có vai trò chủ yếu là điều hành tất cả các hoạt động có liên quan đến sử dụng nước và các yếu tố liên quan đến nước, bảo vệ môi trường lưu vực sông (gọi chung là tổ chức lưu vực sông). Nhằm đáp ứng các yêu cầu cần thiết của công tác quản lý lưu vực sông, ngày 01/12/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2008/NĐ-CP quy định các nguyên tắc quản lý, quy hoạch và tổ chức điều phối lưu vực sông. Bên cạnh đó, việc thành lập các Uỷ ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai đã đáp ứng phần nào các nhu cầu bức thiết của thực tế trong 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc quản lý tài nguyên nước nhằm phát triển bền vững, đảm bảo sự hài hoà giữa ba yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trường.
Tuy nhiên, để các Uỷ ban bảo vệ môi trường theo lưu vực sông (Ủy ban lưu vực sông) hoạt động một cách có hiệu quả thì việc xây dựng một quy chế pháp lý về hoạt động của nó là vấn đề có ý nghĩa rất lớn đòi hỏi sự đầu tư nghiện cứu một cách thoả đáng. Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên tôi lựa chọn đề tài luận văn thạc sỹ của mình về “Quy chế pháp lý về Ủy ban bảo vệ môi trƣờng nƣớc theo các lƣu vực sông” với mong muốn góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật Việt Nam trong việc xây dựng các mô hình quản lý theo lưu vực sông cũng như quy chế pháp lý về các Uỷ ban bảo vệ môi trường nước. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý và cơ sở lý luận của việc quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông dựa trên cơ sở so sánh, đánh giá giữa các mô hình quản lý theo lưu vực sông trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Qua đó tác giả sẽ đưa ra những đánh giá, nhận xét về ưu điểm và những tồn tại cần khắc phục trong mô hình quản lý nước theo lưu vực sông ở Việt Nam (mà cụ thể là vai trò của các Uỷ ban lưu vực sông), từ đó đề xuất các giải pháp, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật trong việc xây dựng Quy chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của các Uỷ ban này.
Tình hình nghiên cứu Phương thức quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông đã được các nước trên thế giới áp dụng một cách rộng rãi từ những năm cuối thế kỷ 20. Ở Việt Nam vài năm trở lại đây chúng ta mới thực sự chú trọng tới vấn đề này. Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và xây dựng các cơ chế, chính sách pháp luật nhằm thể chế hoá việc quản lý nước theo lưu vực sông cho phù hợp với điều kiện đặc trưng của Việt Nam. Một số bài báo và một vài công trình nghiên cứu về vấn đề này như: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nguyễn Văn Thắng (2004), Một số ý kiến về vấn đề thực hiện Quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – số 10/2004.
- Lê Trung Tuân (2005), Quản lý tổng hợp lưu vực sông trên thế giới và những vấn đề cần nghiên cứu khi đề xuất mô hình quản lý lưu vực sông ở Việt Nam, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn-Kỳ 2, tháng 3/2005. - Đỗ Hồng Phấn, Lê Thạc Cán (2006), Quản lý Tổng hợp lưu vực sông ở Việt Nam nhằm phát triển bền vững, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường tháng 8/2006. - Nguyễn Biểu, Kinh nghiệm quản lý lưu vực sông trên thế giới khu vực và Việt Nam. - Ngô Trọng Thuận, Vấn đề quản lý tổng hợp lưu vực sông, Hội thảo khoa học lần thứ 9 - Viện Khí tượng thủy văn.
- Các tham luận tại Hội thảo “Đối thoại: Quản lý lưu vực sông ở Việt Nam”, Núi Cốc – Thái Nguyên, tháng 8/2009. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức độ các bài báo, tạp chí hay các tham luận trong các Hội thảo dưới các góc độ riêng lẻ mà chưa có đề tài nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phép biện chứng triết học Mác – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh để đánh giá các vấn đề. Bên cạnh đó, trên cơ sở tiếp cận kinh nghiệm của các nước trên thế giới kết hợp với việc nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Việt Nam tác giả đưa ra những nhận xét, kiến nghị nhằm xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc xây dựng quy chế Pháp lý về tổ chức, hoạt động của các Uỷ ban lưu vực sông.
Bố cục của luận văn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài phần Mục lục, Lời nói đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương1: Bảo vệ môi trường nước và hiện trạng bảo vệ môi trường nước ở Việt Nam. Chương 2: Một số vấn đề pháp lý về tổ chức, hoạt động của Ủy ban bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Kết luận và Kiến nghị. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG NƢỚC VÀ HIỆN TRẠNG BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG NƢỚC Ở VIỆT NAM 1.1 Bảo vệ môi trƣờng nƣớc 1.1 Khái niệm Khái niệm môi trường được sử dụng khá phổ biến và cũng có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau.
Môi trường theo định nghĩa thông thường “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy” [58]. Môi trường sử dụng trong lĩnh vực khoa học pháp lý là khái niệm được hiểu như mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người. Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa môi trường “bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại,phát triển của con người và sinh vật”[1].