Tổng quan nghiên cứu

Năm 2016, ngành du lịch Việt Nam ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ khi đón hơn 10 triệu lượt khách quốc tế, tăng 26% so với năm 2015, phục vụ 62 triệu lượt khách nội địa và mang lại tổng doanh thu ước đạt 400.000 tỷ đồng. Mặc dù sở hữu tiềm năng du lịch dài hạn nằm trong nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới (xếp thứ 16 trên 184 quốc gia), song kết quả thu hút nguồn lực từ thị trường quốc tế và hơn 4,5 triệu kiều bào tại 109 quốc gia và vùng lãnh thổ vẫn còn khiêm tốn khi mỗi năm chỉ có khoảng 500.000 lượt người Việt Nam ở nước ngoài hồi hương du lịch hoặc tìm kiếm cơ hội đầu tư. Thực trạng này đặt ra vấn đề nghiên cứu cấp thiết về việc nâng cao hiệu quả quảng bá du lịch trên các phương tiện truyền thông đối ngoại chủ lực.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học của tác giả Nguyễn Văn Thiệp, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Minh Sơn tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017, tập trung làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng thông điệp truyền thông du lịch trên hai kênh truyền hình đối ngoại quốc gia là VTV4 thuộc Đài Truyền hình Việt Nam và VTC10 - NETVIET thuộc Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC.

Phạm vi khảo sát của đề tài được triển khai tập trung trong 12 tháng, từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017, đi sâu vào 4 chương trình trọng điểm gồm Top Việt Nam, Tour de Việt Nam, Vietnam Discovery, Du lịch và ẩm thực. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chiến lược quảng bá hình ảnh quốc gia, tối ưu hóa mức độ tiếp cận đến hơn 50 triệu thuê bao truyền hình quốc tế của kênh VTC10 và mạng lưới phủ sóng vệ tinh toàn cầu 24/24 giờ của kênh VTV4.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống lý luận dựa trên sự giao thoa giữa lý thuyết truyền thông đại chúng, lý luận báo chí truyền hình hiện đại và lý thuyết marketing điểm đến du lịch. Báo chí truyền hình được tiếp cận như một loại hình truyền thông đa phương tiện tích hợp ngôn ngữ âm thanh và hình ảnh sống động, có tính thời sự, tính phổ cập và khả năng định hướng dư luận xã hội mạnh mẽ. Về mặt tiếp thị điểm đến, nghiên cứu vận dụng các mô hình định vị thương hiệu quốc gia qua từng thời kỳ thông qua 4 khẩu hiệu lớn của ngành du lịch Việt Nam: từ "Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỷ mới", "Việt Nam - Điểm đến thân thiện và an toàn", "Việt Nam - Vẻ đẹp tiềm ẩn" đến "Việt Nam - Vẻ đẹp bất tận".

Hệ thống khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo quy định pháp lý và thông lệ quốc tế, bao gồm:

  • Du lịch: Khái niệm hóa theo Luật Du lịch 2017 và Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO, xác định đây là hoạt động di chuyển ngoài nơi cư trú thường xuyên không quá 1 năm nhằm mục đích nghỉ ngơi, khám phá tài nguyên thiên nhiên và văn hóa mà không nhằm mục đích kiếm tiền.
  • Quảng bá du lịch: Hoạt động phổ biến rộng rãi thông điệp hình ảnh và dịch vụ du lịch bằng các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm thu hút nguồn khách và xúc tiến đầu tư.
  • Truyền hình đối ngoại: Kênh truyền thông đối ngoại phục vụ nhiệm vụ chính trị, văn hóa, đối ngoại của Đảng và Nhà nước, được quy định tại Chỉ thị 26-CT/TW, Kết luận 16-KL/TW, Nghị quyết 36-NQ/TW và Nghị quyết 08-NQ/TW về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ văn bản pháp quy, báo cáo thống kê của Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thống kê và kịch bản phân cảnh phát sóng của 4 chương trình khảo sát. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua quy trình phát sóng liên tục trong suốt 12 tháng nghiên cứu từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích (purposive sampling) khảo sát toàn bộ 52 tập phát sóng của các chương trình chuyên đề tuần (như Top Việt Nam với thời lượng 30 phút/số) cùng hàng trăm số phát sóng thường nhật của các chương trình Tour de Việt Nam, Vietnam Discovery và Du lịch và ẩm thực. Đồng thời, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu bán cấu trúc với 15 chuyên gia là lãnh đạo phòng, đạo diễn, phóng viên, biên tập viên trực tiếp sản xuất tại VTV4 và VTC10, kết hợp khảo sát ý kiến phản hồi của 50 khán giả gồm người nước ngoài và kiều bào Việt Nam tại hải ngoại.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích nội dung (Content Analysis) kết hợp thống kê định lượng và phỏng vấn sâu: Cách tiếp cận này cho phép bóc tách chi tiết cả định lượng thời lượng, tần suất hình ảnh lẫn định tính chiều sâu thông điệp, ngữ pháp hình ảnh và tính chân thực của cảm xúc. Việc đối chiếu giữa góc nhìn của đội ngũ sản xuất và tâm lý tiếp nhận của công chúng quốc tế giúp nhận diện toàn diện những điểm nghẽn trong quy trình truyền thông đối ngoại.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc khai thác tài nguyên du lịch trên sóng truyền hình đối ngoại chưa phản ánh tương xứng tiềm năng phong phú của đất nước. Việt Nam sở hữu 40.000 di sản và danh lam thắng cảnh (gồm 3.000 di sản cấp quốc gia, 5.000 di sản cấp tỉnh) và 7.966 lễ hội truyền thống, cùng 60.000 km2 địa hình Karst và 3.260 km bờ biển trải dài. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy trên 65% thời lượng nội dung phát sóng tập trung dày đặc vào các điểm đến quen thuộc tại 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng (nơi chiếm 70% di sản cả nước), trong khi các hệ sinh thái đặc thù như rạn san hô Nam Trung Bộ (với 255 loài) hay hệ sinh thái cát đỏ Tây Bắc Phan Thiết (chiếm 30% diện tích cồn cát) lại ít được khai thác chuyên sâu.

Thứ hai, cấu trúc format chương trình có sự phân hóa rõ rệt về định vị phân khúc công chúng mục tiêu. Chương trình Top Việt Nam (VTC10) áp dụng kết cấu thời lượng 30 phút chia thành 2 phần cân bằng: 50% thời lượng đầu giới thiệu cảnh quan, trải nghiệm văn hóa và 50% thời lượng sau giới thiệu cơ sở lưu trú cao cấp hướng tới nhóm khán giả có thu nhập tốt và nhà đầu tư tiềm năng. Ngược lại, Vietnam Discovery và Du lịch và ẩm thực (VTV4) ưu tiên 100% thời lượng cho hình thức phóng sự trải nghiệm văn hóa, ẩm thực vùng miền thông qua sự đồng hành của doanh nghiệp lữ hành quốc gia.

Thứ ba, hạn chế về ngôn ngữ hình ảnh và phương thức thể hiện kỹ thuật. Khoảng 80% cảnh quay được khảo sát trong giai đoạn 2016-2017 vẫn phụ thuộc vào góc máy tĩnh truyền thống ngang tầm mắt, thiếu vắng các góc quay toàn cảnh trên không bằng thiết bị flycam hoặc cảnh quay khám phá dưới nước. Bên cạnh đó, có khoảng 25% nội dung chương trình bộc lộ sự thiếu tự nhiên khi lẫn lộn giữa thông điệp quảng bá văn hóa phi lợi nhuận với hoạt động quan hệ công chúng (PR) thương mại của doanh nghiệp dịch vụ, đi kèm lời bình mang nặng tính khoa giáo, khô khan.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại trên bắt nguồn từ áp lực tự chủ tài chính của các nhà đài dẫn đến việc phụ thuộc vào nguồn kinh phí tài trợ thương mại, cùng với sự thiếu hụt trang thiết bị kỹ thuật chuẩn Ultra HD và hệ thống máy quay chuyên dụng thế hệ mới. Ngoài ra, đội ngũ biên tập viên, người dẫn chương trình trải nghiệm hiện trường chưa được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng diễn xuất trước ống kính và am hiểu tâm lý đa văn hóa của khán giả ngoại quốc.

So sánh với các nghiên cứu truyền thông quốc tế về quảng bá điểm đến, các chương trình du lịch của VTV4 và VTC10 đã làm tốt vai trò cầu nối tình cảm với cộng đồng 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài nhưng chưa tạo được sức hút đột phá đối với du khách quốc tế thuần túy do thiếu tính tương tác trực tiếp.

Dữ liệu khảo sát của luận văn có thể được mô hình hóa sinh động thông qua Bảng cơ cấu thời lượng phát sóng theo vùng địa lý và Biểu đồ thể loại báo chí truyền hình. Trong đó, biểu đồ thể loại phản ánh tỷ trọng vượt trội của thể loại phóng sự truyền hình (chiếm 62%), ký sự tài liệu thực tế (chiếm 23%), trong khi thể loại tọa đàm chuyên đề và chương trình tương tác khán giả chỉ chiếm khoảng 15% tổng thời lượng. Việc trực quan hóa này chứng minh cấu trúc phát sóng đang thiếu hụt các định dạng truyền thông tương tác đa chiều.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam trên truyền hình đối ngoại giai đoạn 2018-2020, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  1. Đổi mới tư duy kịch bản và chuẩn hóa cấu trúc nội dung: Ban Biên tập Truyền hình Đối ngoại của VTV4 và VTC10 cần tái cấu trúc khung kịch bản cho 4 chương trình trọng điểm, giảm tỷ lệ lồng ghép PR thương mại thuần túy xuống dưới 10% tổng thời lượng; tập trung khai thác chiều sâu phong tục của 54 dân tộc và cảnh quan nguyên sơ; hoàn thành quy chuẩn kịch bản mới trong quý 2 năm 2018.
  2. Nâng cấp đồng bộ hạ tầng công nghệ và trang thiết bị kỹ thuật: Ban Lãnh đạo Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC phê duyệt dự án đầu tư 100% thiết bị ghi hình chuẩn 4K/Ultra HD, trang bị máy quay flycam chuyên dụng và camera ghi hình dưới nước; mục tiêu đạt 100% thời lượng phát sóng đạt chuẩn kỹ xảo hiện đại trong lộ trình 12 tháng.
  3. Chuẩn hóa và bồi dưỡng năng lực nguồn nhân lực sản xuất: Trung tâm Đào tạo nghiệp vụ truyền hình tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo mỗi năm cho 100% phóng viên, biên tập viên, quay phim về kỹ năng dẫn hiện trường song ngữ, diễn xuất ống kính và kiến thức văn hóa lịch sử chuyên sâu; thực hiện liên tục từ năm 2018.
  4. Hoàn thiện cơ chế liên kết và xã hội hóa nguồn lực xúc tiến: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Ủy ban nhân dân 63 tỉnh, thành phố chủ động ký kết chương trình đặt hàng truyền thông đối ngoại định kỳ; phấn đấu huy động tăng 30% nguồn vốn xã hội hóa từ các tập đoàn du lịch lữ hành nhằm đa dạng hóa kinh phí sản xuất giai đoạn 2018-2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách du lịch: Vận dụng hệ thống số liệu thực tiễn và cơ sở lý luận để hoàn thiện các văn bản chỉ đạo theo Nghị quyết 08-NQ/TW, phân bổ ngân sách xúc tiến hợp lý cho hơn 7.966 lễ hội và 40.000 di sản trên phạm vi toàn quốc.
  2. Phóng viên, biên tập viên và đạo diễn truyền hình: Sử dụng luận văn như cẩm nang nghiệp vụ thực tế nhằm nâng cao kỹ năng xây dựng kịch bản phân cảnh, xử lý góc máy hiện trường và cân bằng hài hòa giữa nội dung văn hóa với yếu tố thương mại trong các chương trình phát sóng 24/24 giờ.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Báo chí - Truyền thông: Khai thác tư liệu học thuật giá trị về truyền hình đối ngoại và marketing điểm đến, phục vụ trực tiếp cho các học phần Lý luận báo chí truyền hình, Tác phẩm truyền hình và Truyền thông quốc tế.
  4. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành và khách sạn: Thấu hiểu thị hiếu thưởng thức thông tin của 4,5 triệu kiều bào và du khách nước ngoài, từ đó tối ưu hóa chiến lược tài trợ và liên kết sản xuất chương trình truyền hình để quảng bá thương hiệu đạt hiệu quả chuyển đổi cao.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn khảo sát những chương trình truyền hình cụ thể nào?

Nghiên cứu tập trung khảo sát chuyên sâu 4 chương trình du lịch trọng điểm gồm Top Việt Nam, Tour de Việt Nam phát sóng trên kênh VTC10 - NETVIET (Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC) và Vietnam Discovery, Du lịch và ẩm thực phát sóng trên kênh VTV4 (Đài Truyền hình Việt Nam) trong thời gian 1 năm từ tháng 4/2016 đến tháng 4/2017.

Tại sao truyền hình đối ngoại lại đặc biệt chú trọng đến cộng đồng kiều bào?

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 4,5 triệu người sinh sống tại 109 quốc gia nhưng hàng năm chỉ có khoảng 500.000 lượt kiều bào về nước du lịch hoặc tìm kiếm cơ hội đầu tư (chiếm tỷ lệ khoảng 11%). Đây là thị trường mục tiêu giàu tiềm năng cần được thúc đẩy thông qua các chương trình truyền hình chuyên biệt.

Hạn chế kỹ thuật lớn nhất của các chương trình du lịch giai đoạn 2016-2017 là gì?

Khoảng 80% cảnh quay trong giai đoạn này còn sử dụng góc máy tĩnh truyền thống ngang tầm mắt, thiếu các thiết bị hiện đại như flycam ghi hình trên cao, camera chống rung hoặc máy quay chuyên dụng dưới nước, khiến vẻ đẹp kỳ vĩ của 3.260 km bờ biển và 60.000 km2 địa hình Karst chưa được lột tả trọn vẹn.

Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu của tác giả được tiến hành ra sao?

Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích với toàn bộ 52 tập phát sóng của các chương trình tuần, kết hợp phỏng vấn sâu 15 cán bộ lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên của VTV4, VTC10 và thu thập ý kiến khảo sát từ 50 khán giả gồm kiều bào và người nước ngoài để đảm bảo tính khách quan.

Giải pháp nào giúp khắc phục tình trạng thương mại hóa thô cứng trong chương trình?

Luận văn khuyến nghị chuẩn hóa quy trình biên tập kịch bản, khống chế thời lượng giới thiệu dịch vụ lưu trú, ẩm thực dưới mức 10% tổng thời lượng phát sóng, đồng thời lồng ghép thương hiệu doanh nghiệp một cách tự nhiên vào mạch trải nghiệm văn hóa thay vì đọc lời bình PR quảng cáo lộ liễu.

Kết luận

  • Kênh VTV4 và VTC10 - NETVIET khẳng định vai trò xung kích trong việc truyền tải thông điệp văn hóa, du lịch Việt Nam tới hơn 100 quốc gia và hơn 50 triệu thuê bao quốc tế.
  • Công trình đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về truyền hình đối ngoại gắn với chiến lược marketing điểm đến quốc gia và 4 khẩu hiệu định vị thương hiệu du lịch qua các thời kỳ.
  • Đánh giá thực chứng 4 chương trình trọng điểm trong 12 tháng, chỉ ra khoảng cách giữa nguồn tài nguyên 40.000 di sản với tỷ lệ 65% thời lượng tập trung ở đồng bằng sông Hồng.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp 4 trục đồng bộ gồm đổi mới kịch bản, nâng cấp công nghệ ghi hình 4K, bồi dưỡng nhân lực song ngữ và xã hội hóa kinh phí xúc tiến.
  • Xác lập lộ trình hành động cụ thể giai đoạn 2018-2020 nhằm tối ưu hóa hiệu quả thông tin đối ngoại trên cả sóng truyền hình truyền thống và nền tảng số.

Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Thiệp là công trình khoa học có đóng góp quan trọng, giải quyết khoảng trống nghiên cứu về hoạt động quảng bá du lịch trên sóng truyền hình đối ngoại tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhà quản lý, cơ quan báo chí và doanh nghiệp lữ hành nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.