CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu Khái niệm về vốn kinh doanh: - Theo tác giả PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm đưa ra: vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi. [Tài liệu số 3- trang 84] - Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tư liệu sản xuất được doanh nghiệp sử dụng một cách hợp lý và có kế hoạch vào hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận. [Tài liệu số 4 - trang 68] Như vậy vốn kinh doanh: được hiểu là số tiền ứng trước về toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời. Khái niệm VLĐ: - Theo tác giả PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm đưa ra: VLĐ là một số vốn tiền tệ nhất định mà doanh nghiệp phải ứng ra để đầu tư vào các tài sản lưu động đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục.
[Tài liệu số 3- trang 84] - Theo tác giả TS Nguyễn Thu Thủy: VLĐ là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ tài sản ngắn hạn được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hay nói cách khác VLĐ là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. [Tài liệu số 2-trang 287] - VLĐ là một bộ phận của vốn đầu tư của doanh nghiệp dùng để đầu tư mua sắm tài sản lưu động dùng cho sản xuất và lưu thông để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục. [Tài liệu số 4 - trang 68] Như vậy VLĐ là giá trị những tài sản lưu động mà doanh nghiệp đã đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh, đó là số vốn bằng tiền ứng ra để mua sắm các tài sản lưu động sản xuất và các tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục Khái niệm quản trị VLĐ: SVTH: Đoàn Thị Phương 3 Lớp: K47H1 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Thị Liên Hương - Theo tác giả TS Nguyễn Thu Thủy: quản trị VLĐ là việc xây dựng chính sách VLĐ và thực hiện chính sách ấy trong các hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp.2Nội dung lý thuyết liên quan đến quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 1.1 Đặc điểm vốn lưu động VLĐ vận động thường xuyên và nhanh hơn vốn cố định. VLĐ biến đổi từ hình thái này qua hình thái khác và sau đó sẽ chuyển về hình thái ban đầu. Qua quá trình vận động, VLĐ không chỉ biến đổi về hình thái, mà quan trọng hơn nó còn tạo nên sự biến đổi về giá trị. VLĐ chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh VLĐ thường xuyên thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyyển sang vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ.
Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, VLĐ hoàn thành một vòng chu chuyển. VLĐ chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào giá trị sản phẩm, khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa được thực hiện và VLĐ được thu hồi 1.2 Phân loại vốn lưu động Dựa theo tiêu thức khác nhau, có thể chia VLĐ thành các loại khác nhau. Thông thường có một số cách phân loại sau: 1.1 Dựa theo hình thái biểu hiện của vốn lưu động Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn. Vốn vật tư, hàng hóa: Là các khoản VLĐ biểu hiện bằng hình thái hiện vật hàng hoá cụ thể như nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, hàng hoá.
Các KPT: bao gồm các khoản mà doanh nghiệp phải thu của khách hàng và các KPT khác.2 Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu SVTH: Đoàn Thị Phương 4 Lớp: K47H1 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Liên Hương chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ. VLĐ trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển. VLĐ trong khâu lưu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý.); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (dầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn.) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán (các KPT, các khoản tạm ứng.3 Theo nguồn hình thành vốn lưu động Vốn chủ sở hữu: là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt, bao gồm: nguồn ngân sách; liên doanh, liên kết; nguồn vốn cổ phần, tự bổ sung… Nguồn vốn vay: gồm vốn vay ngắn hạn và các khoản nợ hợp pháp như nợ thuế, nợ cán bộ công nhân viên, nhà cung cấp.3 Vai trò của vốn lưu động Vốn trong các doanh nghiệp có vai trò quyết định đến việc thành lập, hoạt động và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất của sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Là một bộ phận không thể thiếu được trong vốn kinh doanh của các doanh nghiệp, VLĐ có những vai trò chủ yếu sau. Một là: VLĐ giúp cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục có hiệu quả. Nếu VLĐ bị thiếu hay luân chuyển chậm sẽ hạn chế việc thực hiện mua bán hàng hoá, làm cho các doanh nghiệp không thể mở rộng được thị trường hay có thể bị gián đoạn sản xuất dẫn đến giảm sút lơị nhuận gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Hai là: VLĐ phân bố khắp trong và ngoài doanh nghiệp, đồng thời chúng lại chu chuyển nhanh nên thông qua quản lý và sử dụng VLĐ, các nhà tài chính doanh nghiệp có thể quản lý toàn diện tới việc cung cấp, sản xuất và phân phối của doanh nghiệp. Chính vì vậy, có thể nói rằng VLĐ là một công cụ quản lý quan trọng. Nó kiểm tra, kiểm soát, phản ánh tính chất khách quan của hoạt động tài chính thông qua đó giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu trong kinh doanh như khả năng thanh toán, tình hình luân chuyển SVTH: Đoàn Thị Phương 5 Lớp: K47H1 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Liên Hương vật tư, hàng hoá, tiền vốn, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Ba là: VLĐ là tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng và phát triển của các doanh nghiệp đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thương mại và các doanh nghiệp nhỏ, bởi ở các doanh nghiệp này VLĐ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn, sự sống còn của các doanh nghiệp này phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức, quản lý và sử dụng VLĐ. Thứ tư: VLĐ là nguồn lực quan trọng để thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh nhằm phát huy tài năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp. Nó giúp cho doanh nghiệp đưa hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực lưu thông, giải quyết được mâu thuẫn vốn có giữa sản xuất và tiêu dùng. Như vậy, VLĐ có một vai trò rất quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì vậy, việc quản lý và sử dụng VLĐ như thế nào cho có hiệu quả sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu chung của doanh nghiệp.4 Nội dung quản trị vốn lưu động 1.1 Quản trị tiền Tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển và tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu dự trữ vốn tiền mặt ở một quy mô nhất định. Nhu cầu dự trữ vốn tiền mặt trong các doanh nghiệp thông thường là để đáp ứng yêu cầu giao dịch hàng ngày như mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết. Ngoài ra còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng để ứng phó với những nhu cầu vốn bất thường chưa dự đoán được và động lực trong việc dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện các cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao.
Việc duy trì một mức dự trữ vốn tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội thu được chiết khấu trên hàng mua trả đúng kỳ hạn, làm tăng hệ số khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Quy mô vốn tiền mặt là kết quả thực hiện nhiều quyết định kinh doanh trong các thời kỳ trước, song việc quản trị vốn tiền mặt không phải là một công việc thụ động. Nhiệm vụ quản trị vốn tiền mặt do đó không phải chỉ là đảm bảo cho SVTH: Đoàn Thị Phương 6 Lớp: K47H1 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Liên Hương doanh nghiệp có đủ lượng vốn tiền mặt cần thiết để đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán mà quan trọng hơn là tối ưu hóa số vốn tiền mặt hiện có, giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái và tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn hoặc đầu tư kiếm lời.
- Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý Mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý cần được xác định sao cho doanh nghiệp có thể tránh được các rủi ro do không có khả năng thanh toán ngay, phải gia hạn thanh toán nên bị phạt hoặc phải trả lãi cao hơn, không làm mất khả năng mua chịu của nhà cung cấp, tận dụng các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. Phương pháp đơn giản thường dùng để xác định mức dự trữ ngân quỹ hợp lý là lấy mức xuất ngân quỹ trung bình hàng ngày nhân với số lượng ngày dự trữ ngân quỹ. Người ta cũng có thế sử dụng phương pháp tổng chi phí tối thiểu trong quản trị vốn tồn kho dự trữ để xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý của doanh nghiệp.