Khóa luận tốt nghiệp Kinh tế: vốn kinh doanh tại công ty cổ phần ống thép

Quản trị vốn kinh doanh tại công ty cổ phần ống thép việt đức vg pipe luận văn tốt nghiệp chuyên ngành tài chính doanh n phục vụ n

Trường đại học

Học Viện Tài Chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2021

155
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Tầm quan trọng của Vốn Kinh doanh

Vốn kinh doanh là tổng giá trị của tất cả tài sản mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với công ty cổ phần ống thép Việt – Đức VG PIPE, quản trị vốn kinh doanh đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì hoạt động sản xuất và phát triển bền vững. Vốn kinh doanh bao gồm vốn cố định và vốn lưu động, là nền tảng để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo ra lợi nhuận. Việc quản trị hiệu quả vốn kinh doanh giúp công ty tối ưu hóa chi phí, nâng cao năng suất lao động và đảm bảo khả năng thanh toán. Trong bối cảnh cạnh tranh thị trường ngày càng gay gắt, việc quản lý vốn kinh doanh một cách khoa học là yếu tố then chốt để công ty duy trì vị thế cạnh tranh.

1.1. Khái niệm Vốn Kinh doanh tại Doanh nghiệp

Vốn kinh doanh được định nghĩa là toàn bộ giá trị tài sản hiện có mà doanh nghiệp sử dụng để thực hiện hoạt động kinh doanh. Nó bao gồm tài sản cố định (máy móc, thiết bị, tòa nhà) và tài sản lưu động (hàng tồn kho, khoản phải thu, tiền mặt). Tại công ty cổ phần ống thép, vốn kinh doanh liên quan trực tiếp đến khả năng sản xuất ống thép, đáp ứng nhu cầu thị trường và tạo giá trị gia tăng cho cổ đông.

1.2. Các Thành phần Chính của Vốn Kinh doanh

Vốn kinh doanh được chia thành hai thành phần chính: (1) Vốn cố định bao gồm tài sản cố định hữu hình như nhà xưởng, máy móc sản xuất; (2) Vốn lưu động bao gồm hàng tồn kho, khoản phải thu từ khách hàng, tiền mặt và tiền gửi ngân hàng. Tại công ty cổ phần ống thép Việt – Đức, cân bằng giữa hai loại vốn này là yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh.

II. Thực trạng Quản trị Vốn Kinh doanh tại Công ty Cổ phần Ống thép Việt Đức VG PIPE

Công ty cổ phần ống thép Việt – Đức VG PIPE là một doanh nghiệp sản xuất ống thép hàng đầu tại Việt Nam với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực. Quản trị vốn kinh doanh tại công ty đã đạt được những kết quả tích cực nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế cần khắc phục. Tình hình vốn kinh doanh của công ty cho thấy sự biến động trong cơ cấu tài sản và nguồn vốn qua các năm. Quản lý vốn lưu động, đặc biệt là quản lý hàng tồn kho và khoản phải thu, vẫn còn là những khía cạnh cần được cải thiện. Công ty cần tập trung vào việc tối ưu hóa cơ cấu vốn kinh doanh để giảm chi phí tài chính và tăng hiệu suất sử dụng tài sản cố định.

2.1. Tình hình Vốn Kinh doanh và Nguồn Vốn của Công ty

Vốn kinh doanh tại công ty cổ phần ống thép bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ vay. Cơ cấu vốn của công ty cho thấy sự phụ thuộc vào nợ vay ngân hàng, điều này đòi hỏi công ty phải quản lý tài chính chặt chẽ. Nguồn vốn chính của công ty bao gồm vốn điều lệ, lợi nhuận tích lũy và các khoản vay từ ngân hàng. Việc tối ưu hóa cơ cấu vốn là một trong những ưu tiên hàng đầu để nâng cao khả năng thanh toán.

2.2. Quản trị Vốn Lưu động và Vốn Cố định

Quản lý vốn lưu động tại công ty liên quan đến việc quản lý hàng tồn kho, khoản phải thu và tiền mặt. Tình hình hàng tồn kho và khoản phải thu cho thấy sự biến động theo chu kỳ kinh doanh. Đối với vốn cố định, công ty cần tăng cường bảo dưỡng, nâng cao hiệu suất sử dụng máy móc và thiết bị sản xuất để đạt được lợi suất cao hơn.

III. Những Hạn chế trong Quản trị Vốn Kinh doanh

Mặc dù công ty cổ phần ống thép Việt – Đức VG PIPE đã đạt được những thành tích nhất định, nhưng quản trị vốn kinh doanh vẫn tồn tại những hạn chế đáng kể. Cơ cấu vốn của công ty chưa tối ưu với tỷ lệ nợ vay còn cao, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và chi phí tài chính. Quản lý hàng tồn kho còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng dư thừa hàng hóa hoặc thiếu hụt. Khoản phải thu từ khách hàng chưa được theo dõi chặt chẽ, gây ảnh hưởng đến dòng tiền mặt. Hiệu suất sử dụng vốn cố định chưa đạt mức tối ưu, nhiều máy móc hoạt động chưa hiệu quả. Các chỉ tiêu quản lý tài sản chưa được giám sát thường xuyên và hệ thống quản lý còn thiếu độ chuyên nghiệp.

3.1. Những Kết quả Đã Đạt được

Công ty đã quản lý vốn kinh doanh một cách cơ bản, đảm bảo duy trì hoạt động sản xuất ổn định. Tỷ lệ khả năng thanh toán của công ty vẫn ở mức chấp nhận được, cho phép công ty thực hiện các khoản thanh toán đúng hạn. Tài sản cố định được bảo quản một cách cơ bản, giúp duy trì năng lực sản xuất. Công ty cũng đã tạo lập được uy tín với các nhà cung cấp và khách hàng.

3.2. Những Nguyên nhân của Hạn chế

Nguyên nhân của các hạn chế trong quản trị vốn kinh doanh bao gồm: hệ thống quản lý còn yếu, thiếu kỹ năng quản lý tài chính, tình hình thị trường không ổn định, và sự thay đổi nhanh chóng trong nhu cầu của khách hàng. Cơ cấu tổ chức của công ty chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu quản lý hiện đại, dẫn đến những sơ suất trong quản lý vốn lưu động.

IV. Giải pháp Tăng cường Quản trị Vốn Kinh doanh

Để tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại công ty cổ phần ống thép Việt – Đức VG PIPE, cần áp dụng các giải pháp toàn diện và bài bản. Trước hết, cần cải cấu trúc vốn bằng cách giảm tỷ lệ nợ vay và tăng vốn chủ sở hữu để hạ chi phí tài chính. Quản lý hàng tồn kho cần áp dụng công nghệ kỹ thuật số, xây dựng hệ thống dự báo nhu cầu chính xác hơn. Quản lý khoản phải thu phải chặt chẽ hơn thông qua việc áp dụng chính sách tín dụng khắt khe và giám sát thanh toán thường xuyên. Nâng cao hiệu suất vốn cố định bằng cách đầu tư nâng cấp máy móc, đào tạo kỹ năng cho nhân viên. Cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu quản lý tài sản chi tiết và thường xuyên đánh giá.

4.1. Xem xét Lại Cơ cấu Vốn

Tối ưu hóa cơ cấu vốn là giải pháp cốt lõi, bao gồm việc giảm phụ thuộc vào nợ vay, tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu qua tích lũy lợi nhuận, và tìm kiếm các nguồn vốn kinh doanh mới. Công ty nên rà soát các khoản nợ hiện tại, lập kế hoạch trả nợ hợp lý, và thương lượng với ngân hàng về lãi suất. Cơ cấu tài chính hợp lý giúp giảm rủi ro tài chính và tăng giá trị doanh nghiệp.

4.2. Nâng cao Chất lượng Quản lý Tài sản

Quản lý tài sản cần được cải thiện thông qua việc xây dựng quy trình quản lý chi tiết, sử dụng phần mềm quản lý kho bãi hiện đại, và tăng cường kiểm soát nội bộ. Hàng tồn kho cần được quản lý theo nguyên tắc just-in-time để giảm chi phí lưu kho. Tài sản cố định phải được bảo dưỡng định kỳ và có kế hoạch thay thế kịp thời để duy trì hiệu suất sản xuất.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh 1. Khái niệm của vốn kinh doanh.

Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh đều với mục đích là sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để trao đổi với các đơn vị kinh tế khác nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận. Tuy nhiên, để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần thiết phải có một lượng vốn nhất định. Vậy vốn là gì? Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết đối với mọi doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực, ngành nghề trong nền kinh tế. Bất kì một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải có ba yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đối tượng lao động, và tư liệu lao động.

Để có được các yếu tố cơ bản này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Lượng vốn tiền tệ đó được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp, được ứng trước để đầu tư mua sắm, hình thành tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền chuyển sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sự vận động như vậy được gọi là sự tuần hoàn của vốn.

Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục không ngừng vì vậy sự chu chuyển của vốn cũng luôn liên tục và không ngừng. Vậy: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Nói cách khác, đó là biểu hiện bằng tiền của SV: NGUYỄN THÙY DUNG 7 LỚP: CQ55/11.05 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH toàn bộ giá trị tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư và sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình. Đặc trưng của vốn kinh doanh.

Sự phát triển và ổn định của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Do đó, muốn quản trị tốt việc sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp thì các doanh nghiệp cần phải nắm bắt và hiểu rõ về đặc trưng của nó. Thứ nhất: Vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản, có nghĩa vốn là biểu hiện bằng giá trị tiền tệ của các tài sản hữu hình và vô hình. Cụ thể, được thể hiện bằng tài sản hữu hình trong doanh nghiệp như: nhà xưởng, máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải.và tài sản vô hình như: chi phí mua bằng phát minh sáng chế, giá trị lợi thế về vị trí địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp… Thứ hai: Vốn phải được tích tụ tập trung đến một thời lượng nhất định mới phát huy tác dụng, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

Để đầu tư sản xuất kinh doanh, thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải tích tụ thành một lượng tiền tối thiểu bằng vốn pháp định mà nhà nước qui định cho mỗi ngành nghề. Nếu vốn nằm phân tán, rải rác mà không được tập trung lại thì sẽ không phát huy được hiệu quả của nó. Thứ ba: Trong nền kinh tế thị trường, vốn phải vận động sinh lời. Mục đích vận động của vốn là sinh lời.

Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái bảng hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là tiền, lượng tiền thu về phải lớn hơn lượng tiền bỏ ra. Đây là nguyên tắc cơ bản của việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Quá trình tuần hoàn chu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp nhanh hay chậm phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng ngành kinh doanh, vào tổ chức sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Thứ tư: Vốn kinh doanh có giá trị về mặt thời gian vì một đồng vốn ở mỗi thời điểm khác nhau thì có giá trị khác nhau, đó chính là giá trị thời gian của vốn.

SV: NGUYỄN THÙY DUNG 8 LỚP: CQ55/11.05 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH Vốn có giá trị thời gian do sự tác động của các nhân tố như: lạm phát, giá cả, tiến bộ khoa học kỹ thuật, rủi ro tỷ giá hối đoái, khủng hoảng, chính sách tài chính và tiền tệ của Nhà nước…Các nhân tố này tồn tại một cách khách quan và tiềm ẩn trong nền kinh tế với các mức độ tác động khác nhau trong từng thời kỳ. Vì vậy khi xem xét việc đầu tư hay huy động vốn, doanh nghiệp luôn phải xác định thời gian của vốn và những yếu tố tác động có ảnh hưởng như thế nào đến việc đầu tư hay sử dụng nguồn vốn đó. Thứ năm: Vốn kinh doanh luôn vận động và gắn với một chủ sở hữu nhất định. Mỗi loại vốn bao giờ cũng gắn với một chủ sở hữu nhất định.

Tuy nhiên, người sử dụng vốn chưa chắc là người sở hữu vốn, do có sự tách biệt giữa người sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. Điều này đòi hỏi người sử dụng vốn phải có trách nhiệm với đồng vốn mình nắm giữ và sử dụng. Và khi mua hay bán vốn trên thị trường thì chỉ có thể mua bán quyền sử dụng vốn. Thứ sáu: Vốn kinh doanh được coi là loại hàng hoá đặc biệt Điều đó thể hiện ở chỗ, nó có thể được giao dịch mua bán trên thị trường tài chính và giá cả của việc sử dụng vốn chính là chi phí cơ hội, chi phí đó biểu hiện dưới dạng tiền lãi hay cổ tức trả cho cổ đông khi doanh nghiệp huy động thêm vốn để đầu tư thêm cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thành phần của vốn kinh doanh VKD có nhiều loại, để phục vụ cho yêu cầu quản lý, sử dụng VKD tiết kiệm và có hiệu quả người ta thường phân loại chúng theo các tiêu thức sau: 1. Phân loại theo kết quả của hoạt động đầu tư Theo tiêu thức này, VKD của DN bao gồm: VKD đầu tư vào TSLĐ, TSCĐ và tài sản tài chính của DN. * VKD đầu tư vào TSLĐ: là số vốn đầu tư để hình thành các TSLĐ phục vụ cho hoạt động SXKD của DN, bao gồm: các loại vốn bằng tiền, vốn vật tư hàng hóa, các khoản phải thu, các loại TSLĐ khác của DN. SV: NGUYỄN THÙY DUNG 9 LỚP: CQ55/11.05 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH * VKD đầu tư vào TSCĐ: là số vốn đầu tư để hình thành các TSCĐ hữu hình và vô hình, như nhà xưởng, máy móc thiết bị, bằng phát minh,.

* VKD đầu tư vào TS tài chính: là số vốn DN đầu tư vào các TS tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng. Mỗi loại TS đầu tư của DN có thời hạn sử dụng và đặc điểm thanh khoản khác nhau. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian luân chuyển VKD cũng như mức độ rủi ro trong sử dụng VKD của DN. Phân loại theo đặc điểm luân chuyển vốn Theo đặc điểm luân chuyển, VKD của DN được chia thành vốn cố định và vốn lưu động.

* Vốn cố định của doanh nghiệp: là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSCĐ dùng cho HĐSXKD của DN. Nói cách khác, VKD là biểu hiện bằng tiền của các TSCĐ trong DN. Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định luôn bị chi phối bởi các đặc điểm kinh tế - kĩ thuật của TSCĐ trong doanh nghiệp: - Một là, VCĐ tham gia vào nhiều chu kì kinh doanh. Đặc điểm của TSCĐ là được sử dụng lâu dài, sau trong nhiều năm mới cần thay thế mới.

- Hai là, trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn cố định được luân chuyển từng phần vào giá trị sản phẩm. Phần giá trị luân chuyển này của vốn cố định được phản ánh dưới hình thức chi phí khấu hao TSCĐ, tương ứng với phần giá trị hao mòn TSCĐ của doanh nghiệp. - Ba là, sau nhiều chu kì kinh doanh vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển. * Vốn lưu động: là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN bỏ ra để hình thành nên các TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình SXKD của DN được thực hiện thường xuyên liên tục.

Do các TSLĐ có thời hạn sử dụng ngắn nên VLĐ cũng luân chuyển nhanh. Hình thái biểu hiện của vốn lưu động cũng luôn thay đổi qua các giai đoạn trong quá trình SXKD: T – H – (sx) – H’– T’ SV: NGUYỄN THÙY DUNG 10 LỚP: CQ55/11.05 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH Kết thúc mỗi chu kì kinh doanh, giá trị của VLĐ được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và được bù đắp lại khi DN thu được tiền bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Quá trình này diễn ra thường xuyên liên tục và được lặp lại sau mỗi chu kì kinh doanh, tạo thành vòng tuần hoàn, chu chuyển của VLĐ. Nguồn hình thành vốn kinh doanh Thông thường trong công tác quản lý người ta thường sử dụng một số phương pháp phân loại nguồn vốn chủ yếu sau: 1.

Dựa vào quan hệ sở hữu vốn Dựa vào tiêu thức này có thể chia nguồn hình thành VKD của DN thành 2 loại: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. ➢ Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là một nguồn vốn quan trọng có tính ổn định cao thể hiện quyền tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. VCSH là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp bao gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh. Ưu điểm của vốn chủ sở hữu: + Doanh nghiệp sử dụng VCSH thì không phải trả lãi vay vì vậy giảm chi phí kinh doanh.

+ Chủ động nguồn vốn trong việc đầu tư. Nhược điểm: - Việc sử dụng vốn chủ sở hữu trong kinh doanh thì sẻ không tạo áp lực trả nợ khi đáo hạn nên hoạt động kinh doanh sẻ kém hiểu quả hơn. - Việc sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu tức doanh nghiệp sẻ sử dụng ít đòn bẩy tài chính hơn. ➢ Nợ phải trả Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: nợ vay các khoản phải trả cho người bán cho Nhà nước, cho người lao động trong DN… SV: NGUYỄN THÙY DUNG 11 LỚP: CQ55/11.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ