phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, phụ lục, nội dung luộn văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận về quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp. SV: Ngô Thị Kim Ngân 5 Lớp: CQ56/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Chƣơng 2: Thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phàn Ô Tô TMT. Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm tăng cƣờng quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Ô Tô TMT. Đề tài “quản trị vốn kinh doanh” là một vấn đề đòi hỏi kiến thức sâu rộng, năng lực và cả kinh nghiệm thực tế.
Do thời gian thực tập ngắn và kiến thức còn nhiều hạn chế về cả lý luận và thực tiễn nên bài viết này khó tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận đƣợc sự góp ý của thầy cô giáo để bài viết của em đƣợc hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn ! Hà Nội, ngày tháng năm 2022 Sinh viên thực hiện Ngô Thị Kim Ngân SV: Ngô Thị Kim Ngân 6 Lớp: CQ56/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Khái niệm vốn kinh doanh của doanh nghiệp: Doanh nghiệp (DN) là một tổ chức kinh tế có tên gọi riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời. Trong nền kinh tế thị trƣờng, vốn là một yếu tố và tiền đề cần thiết cho việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của một DN, để có thể tiến hành hoạt động SXKD thì các DN cần phải có các yếu tố cơ bản nhƣ là: tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động và sức lao động. Để có đƣợc các yếu tố này đòi hỏi các DN cần phải bỏ ra một số tiền tệ nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh của DN. Lƣợng tiền tệ ứng trƣớc này nhằm đảm bảo cho các yếu tố “đầu vào” của quá trình SXKD nhƣ mua sắm nguyên vật liệu, TSCĐ, trả tiền công cho ngƣời lao động…đƣợc gọi là VKD của DN.
Nhƣ vậy, có thể hiểu: “Vốn kinh doanh của DN là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động SXKD của DN.” (giáo trình Tài chính Doanh nghiệp, tr 449) Trong quá trình SXKD, Vốn kinh doanh của DN không ngừng vận động và chuyển hoá từ hình thái ban đầu là tiền, tiếp đó lần lƣợt chuyển sang các hình thái khác nhau nhƣ vốn vật tƣ, hàng hóa và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Sự vận động này đƣợc gọi là sự tuần hoàn của vốn. Quá trình hoạt động SXKD của DN diễn ra liên tục, không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh.
Sự chu chuyển của vốn kinh doanh nhanh hay chậm chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của SV: Ngô Thị Kim Ngân 7 Lớp: CQ56/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính ngành kinh doanh và tình độ tổ chức SXKD của mỗi DN. Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, VKD không chỉ là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của DN mà còn đƣợc xem nhƣ một loai hàng hóa đặc biệt. Giá cả của quyền sử dụng vốn kinh doanh là chi phí cơ hội trong việc sử dụng vốn kinh doanh của DN. Thêm nữa, do tác động yếu tố khả năng sinh lời và rủi ro nên vốn kinh doanh của DN có giá trị theo thời gian.
Do tầm quan trọng của vốn kinh doanh nên các DN cần huy động, quản lí và sử dụng vốn kinh doanh của mình sao cho tiết kiệm và hiệu quả. Đặc trưng của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. Thứ nhất: VKD phải đại diện cho một lƣợng tài sản nhất định, điều đó có nghĩa là vốn đƣợc biểu hiện bằng một lƣợng giá trị thực tế của các tài sản nhƣ là: nhà xƣởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hoá, bằng phát minh sáng chế, phần mềm. Thứ hai: VKD đƣợc vận động sinh lời, ban đầu vốn đƣợc biểu hiện bằng một lƣợng tiền nhất định nhƣng để tiền trở thành vốn thì phải đƣa vào hoạt động SXKD.
Trong quá trình vận động đồng vốn có thể thay đổi hình thái, nhƣng điểm xuất phát và điểm kết thúc vòng tuần hoàn phải là giá trị - là tiền. Đồng tiền phải quay về điểm xuất phát với giá trị lớn hơn. Tuy nhiên, trƣờng hợp tiền có vận động nhƣng bị thất tán, quay về vạch xuất phát nhƣng với giá trị nhỏ hơn ban đầu thì đồng vốn không đƣợc đảm bảo. Chu kỳ vận động tiếp theo sẽ bị ảnh hƣởng.
Thứ ba: VKD phải đƣợc tập trung tích tụ đến một lƣợng nhất định mới có thể phục vụ cho quá trình SXKD và phát huy đƣợc tác dụng. Điều này đòi hỏi DN phải biết tận dụng và khai thác, thu hút mọi nguồn vốn (góp vốn, hùn vốn, phát hành cổ phiếu, trái phiếu,…) một cách hợp lý và đồng bộ với nhau. Thứ tư: VKD có giá trị về mặt thời gian. Do tiền chịu ảnh hƣởng của các nhân tố nhƣ lạm phát, lãi suất.
Nên giá trị của VKD tại các thời điểm SV: Ngô Thị Kim Ngân 8 Lớp: CQ56/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính khác nhau là khác nhau. Thứ năm: VKD gắn với chủ sở hữu. Mỗi loại vốn bao giờ cũng gắn với một chủ sở hữu nhất định. Tùy theo hình thức đầu tƣ mà ngƣời sở hữu vốn có thể đồng nhất với ngƣời sử dụng vốn hoặc ngƣời sử dụng vốn đƣợc tách khỏi ngƣời sở hữu vốn, do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn.
Thứ sáu: VKD đƣợc coi là một hàng hóa đặc biệt. VKD cũng có sự thống nhất giữa hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng nhƣng khác với các hàng hóa thông thƣờng, vốn khi “bán ra” sẽ không mất đi quyền sở hữu nhƣng quyền sử dụng vốn đƣợc chuyển nhƣợng qua sự cho vay, ngƣời mua đƣợc quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định và phải trả cho một khoản chi phí nhất định cho chủ sở hữu gọi là lãi vay. Thành phần của vốn kinh doanh. Phân loại theo kết quả của hoạt động đầu tư.
Theo tiêu thức này, VKD của DN đƣợc chia thành 3 loại: Vốn kinh doanh đầu tƣ vào TSLĐ: là số vốn đầu tƣ để hình thành các tài sản lƣu động phục vụ cho hoạt động SXKD của DN, bao gồm: các loại vốn bằng tiền, vốn vật tƣ hàng hóa, các khoản phải thu… Vốn kinh doanh đầu tƣ vào TSCĐ: là số vốn đầu tƣ để hình thành các TSCĐ, nhƣ nhà xƣởng, máy móc thiết bị, phƣơng tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, các khoản chi phí mua bằng phát minh, sáng chế, nhãn hiệu … Vốn kinh doanh đầu tƣ vào tài sản tài chính: là số vốn DN đầu tƣ vào các tài sản tài chính nhƣ cổ phiếu, trái phiếu DN, trái phiếu Chính Phủ, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ quỹ đầu tƣ và các giấy tờ có giá khác. Cách phân loại theo tiêu thức này giúp cho DN có thể lựa chọn đƣợc cơ cấu tài sản đầu tƣ hợp lí và hiệu quả. Cơ cấu vồn đầu tƣ và tài sản phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh và lựa chọn quyết định đầu tƣ của từng SV: Ngô Thị Kim Ngân 9 Lớp: CQ56/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính DN. Tuy nhiên, muốn đạt hiệu quả kinh doanh cao, DN cần chú trọng đảm bảo sự đồng bộ, cân đối về năng lực sản xuất giữa các tài sản đầu tƣ, vừa phải đảm bảo tính thanh khoản, khả năng phân tán rủi ro của tài sản đầu tƣ trong DN.
Phân loại theo đặc điểm luân chuyển của vốn. Vốn cố định (VCĐ). “VCĐ là một bộ phận của vốn kinh doanh, là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSCĐ dùng cho hoạt động SXKD của DN” (Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, tr452) - Điều kiện được coi là tài sản cố định. +) Chắc chắn thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai từ việc sử dụng tài sản đó.
+) Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên. +) Nguyên giá tài sản phải đƣợc xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên. - Các đặc điểm chu chuyển của vốn cố định +) VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD. Do VCĐ có đặc điểm này do TSCĐ có giá trị lớn và đƣợc sử dụng lâu dài, sau nhiều năm mới cần thay thế, đổi mới.
+) VCĐ luân chuyển từng phần vào giá trị sản phẩm. Phần giá trị luân chuyển này đƣơc phản ánh dƣới hình thức khấu hao TSCĐ. Bộ phận còn lại chƣa luân chuyển tồn tại dƣới hình thức là giá trị còn lại của TSCĐ. +) VCĐ chỉ hoàn thành một vòng luân chuyển khi TSCĐ đã hết thời gian sử dụng.
VLĐ là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD của DN. SV: Ngô Thị Kim Ngân 10 Lớp: CQ56/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính - Đặc điểm chu chuyển của vốn lưu động: +) Luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh. +) Chuyển dịch toàn bộ giá trị của vốn lƣu động trong một lần vào sản phẩm hàng, dịch vụ sản xuất đƣợc. +) VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm.
Tại mỗi thời điểm nhất định VLĐ của DN đƣợc phân bổ ở các giai đoạn của quá trình SXKD và tồn tại dƣới nhiều hình thái khác nhau. Do đó muốn quá trình tái SXKD của DN đƣợc diễn ra liên tục thì DN phải có đủ VLĐ đầu tƣ vào các hình thái khác nhau đó đảm bảo cho các hình thái có đƣợc mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Nguồn hình thành vốn kinh doanh trong doanh nghiệp 1.