Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN TRỊ TỐT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU Tự CHỦ ĐẠI HỌC 1. Nhận thức vê Quản trị tôt đáp ứng yêu câu của tụ’ chủ đại học 1. Khái niệm chung 1. Quan niệm về quản trị và Quản trị tot niệm về “Quản trị ” Thuật ngữ “Quản trị” đã bắt đầu được sử dụng từ khá sớm vào thập niên 1990 và gắn với quá trình cải cách khu vực công ở những nước áp dụng mô hình quản lý công mới.
Hiện nay, khái niệm này đã được mở rộng và được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, ở nhiều lĩnh vực với các thuật ngữ như: Quản trị nhà nước (QTNN), quản trị văn phòng, quản trị doanh nghiệp hay quản trị kinh doanh. Có thể thấy, quản trị hiện nay đã trở thành một chức năng vốn có của mọi hoạt động, mọi tố chức; quản trị phát sinh từ hoạt động phân công lao động xã hội và từ sự cần thiết của việc phải có sự điều phối, phối họp trong các hành động và và nâng cao hiệu quả hoạt động của cá nhân, các bộ phận trong tổ chức dưới sự điều khiển của các nhà quản trị nhằm thực hiện có hiệu quả cao mục tiêu chung của tổ chức. Theo tác giả Mary Parker Follett - một triết gia quản trị hàng đầu trong Lý thuyết hành vi, bà cho rằng “quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác” [15], Theo bà, các nhà quản trị đạt được các mục tiêu của tổ chức thông qua cách sắp xếp và giao việc cho người khác thay vì tự mình hoàn thành công việc. Còn tác giả Koontz và O’Donnell thì định nghĩa như sau: “Quản trị là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thế hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định ” [15].
James L Gibson, James H.D Donnelly và John M. Ivancevich trong giáo trình “Quản trị học cơ bản” đã đưa ra quan niệm vê quản trị như sau: “Quản trị là một quả trình do một hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác đê đạt được những kết quả mà một người hoạt động riêng rẽ không thê nào đạt được. ” Từ các quan niệm nêu trên, chúng ta có thê khái quát khái niệm “Quản trị” như sau: Quản trị là sự tác động một cách liên tục, có tô chức và có định hướng của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị thông qua các hoạt động: tô chức, hoạch định, lãnh đạo, kiêm tra và sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu chung của tô chức đã đề ra trong một điều kiện biến động của môi trường và sự thay đôi của các nguồn lực. mem tri tôt” Thuật ngữ “Quản trị tôt” hay “Quản trị tiên tiên” đã xuât hiện từ thập niên 1990 nhưng đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI thuật ngữ này mới được quan tâm và thảo luận nhiều trên thế giới.
Nguyên nhân được lý giải là do tình trạng quản trị kém với các dấu hiệu đặc trưng như vi phạm nhân quyền, sự thiếu trách nhiệm và đặc biệt là tình trạng tham nhũng dẫn tới cần tìm ra nhu cầu tìm ra biện pháp quản trị tốt hơn. Vì vậy mà quản trị tốt đã trở thành một trong những nội dung quan trọng được thảo luận trong các chương trình nghị sự về kinh tế - chính trị ở nhiều cấp độ từ quốc gia tới khu vực và quốc tế. Hiện nay, vân chưa có một định nghĩa chung vê “quản trị tôt” song các định nghĩa phổ biến được các tổ chức quốc tế đưa ra có thể kể đến như: Theo World Bank (1996) thì thuật ngữ “Quản trị tôt” được hiêu là: “cách thức sử dụng sức mạnh quyền lực nhà nước để quản lý nguồn lực xã hội vì sự phát triển quốc gia” [47], World Bank (1992), thì định nghĩa: “Quản trị tốt là tập hợp các thê chế minh bạch, có trách nhiệm giải trình, có năng lực và kỹ năng, cùng với ý chí quyết tâm làm những điều tốt đẹp. Tẩt cả giúp cho một nhà nước cung cãp những dịch vụ công cho người dân một cách hiệu quả ” [46].
Còn theo chương trình Phát triển Liên Họp Quốc (UNDP) đã định nghĩa tốt như sau: “Quản trị tốt nói đến các hệ thống quản lỷ có năng lực, kịp thời, toàn diện và minh bạch. Theo Cao uỷ nhân quyền Liên hiệp quốc thì: “ .quản trị tốt liên quan đến các tiến trình và kết quả chính trị và thê chế mà cần thiết đê đạt được các mục tiêu phát triển. Đó là một tiến trình •••/• mà các cơ quan công quyền giải quyết các vấn đề công cộng, quản lý các nguồn lực công và bảo đảm việc thực hiện các quyền con người theo cách thức hoàn toàn không có sự tham nhũng và lạm dụng và thực sự tuân thủ nguyền tắc pháp quyền. ” Theo OECD - Tố chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thì Quản trị tốt bao gồm các yếu tố sau: Một là, trách nhiệm giải trình; hai là, sụ minh bạch; ba là, tính hiệu quả; bổn là, hiệu lực; năm là, tính kịp thời; sáu là, tầm nhìn; bảy là, pháp quyền [50], Theo co quan Cao uỷ nhân quyền Liên hiệp quốc: “.quản trị tốt liên quan đến các tiến trình và kết quả chính trị và thể chế mà cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển.
Đó là một tiến trình mà các co quan công quyền giải quyết các vấn đề công cộng, quản lý các nguồn lực công và bảo đảm việc thực hiện các quyền con người theo cách thức hoàn toàn không có sự tham nhũng và lạm dụng và thực sự tuân thủ nguyên tắc pháp quyền. Tùy thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng, thuật ngữ quản trị tốt có thể được dùng để nói đến các vấn đề như: tôn trọng đầy đủ các quyền con người (full respect of human rights); nguyên tắc pháp quyền (the rule of law), sự tham gia hiệu quả [của người dân] (effective participation), sự cộng tác của nhiều chủ thể (multi-actor partnerships), đa nguyên chính trị (political pluralism), các tiến trình và thể chế minh bạch và có trách nhiệm giải trình (transparent and accountable processes and institutions), khu vực công hiệu lực, hiệu quả (efficient and effective public sector), tính hợp pháp (legitimacy), tiêp cận với kiến thức, thông tin và giáo dục (access to knowledge, information and education), trao quyền chính trị của người dân (political empowerment of people), sự công bình (equity), sự on định (sustainability), thái độ và các giá trị giúp thúc đẩy trách nhiệm, sự đoàn kết và sự khoan dung (attitudes and values that foster responsibility, solidarity and tolerance) [511. Có thể thấy, căn cứ vào mục đích và bối cảnh sử dụng mà thuật ngữ “Quản trị tốt” được định nghĩa một cách khác nhau. Từ những khái niệm nêu trên khái niệm “Quản trị tốt” được đưa ra như sau: Quản trị tốt là tập họp các tiêu chí về quản lý xã hội nhằm hướng tới mục tiêu bảo đảm, thúc đấy sự phát triển bền vững và hài hòa của một quốc gia ” (Vũ Công Giao (2017), “Một số vấn đề lý luận về quản trị tốt”, trong cuốn: Quản trị tốt: Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia).
Và quản trị tốt không phải một mô hình hay một phương thức tổ chức, hoạt động của nhà nước hay một hệ thống chính trị mà là những nguyên tắc mang tính định hướng cho việc thiết kế và vận hành bộ máy nhà nước hoặc hệ thống chính trị đó. Quan niệm về “tự chủ đại học” •••• Hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về TCĐH - University autonomy căn cứ theo nhận thức về vai trò của Nhà nước đối với GDĐH. Ở một số quốc gia Châu Âu, người ta quan niệm TCĐH trên hai khía cạnh sau: Một là, quyền tự do đưa ra các quyết định về cách thức tổ chức hoạt động cũng như mục tiêu sứ mạng của trường đại học; /ỉứ/ là, thoát khỏi sự hạn chế, kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước, của thị trường lao động, nhà cung cấp dịch vụ. Đại học Berlin đã được nhà giáo dục Wilhelm von Humboldt (1767- 1835) thành lập vào thế kỷ XVIII trên cơ sở các nguyên lý nền tảng, trong đó có “tự do học tập và tự do giảng dạy” và “đại học cần được tự chủ, không có sự can thiệp của nhà nước".
Các nguyên lý này của Wilhelm von Humboldt đã trở thành hình mẫu để thành lập đại học ờ các nuớc Châu Âu và ở nhiều châu lục khác. Hiện nay, trong quy định pháp luật của hầu hết các quốc gia đều có quy định về quyền tự chủ của các trường đại học và nó được coi là một điều kiện quan trong, tiên quyết cho sự thành công của các trường đại học ở Châu Au. Wilhelm von Humboldt đã đưa ra ba nguyên lý cơ bản trong GDĐH đó là: Quyền tự do học thuật; Quyền tự chủ của trường đại học và tính thống nhất giữa giảng dạy và nghiên cứu. Các nguyên lý trên đã có sự tác động mạnh mẽ tới các trường đại học trên thế giới và có cả các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của Hoa Kỳ.
Đại hiến chương đại học năm 1988 của Liên hiệp các Đại học Châu Âu “Magna Charta Universitatum” đã tuyên bố: “trường đại học là một tô chức tự chủ nằm ở trải tim/trung tâm của mọi xã hội” [16], Tuyên bố này không chỉ có giá trị về mặt pháp lý mà còn có giá trị về mặt đạo đức. Không những chỉ ra TCĐH là gì mà còn chỉ rõ TCĐH trong đó tự do học thuật là một phần của trường đại học tự chủ “đê đáp ứng nhu cầu của thế giới xung quanh, trường đại học nghiên cứu và giảng dạy một cách độc lập về trí tuệ và theo đạo đức đổi với tất cả quyền lực kinh tể và chinh trị” [16], Còn nhà giáo dục Don Anderson và Richard Johnson trong báo cáo về công tác TCĐH tại 20 quốc gia trên thế giới đã định nghĩa như sau: ‘‘sự tự do của một trường đại học trong việc thực hiện các công việc riêng của mình mà không chịu sự chỉ đạo hoặc ảnh hưởng từ bất cứ cẩp chính quyền nào" [33], Học viện Canada và Hiệp hội Đại học thì cho rằng, TCĐH bao gồm các quyền như: quyền được lựa chọn, nhiệm cán bộ; quyền xét tuyển và kỷ luật sinh viên; xác nhận hoàn tất chương trình và cấp phát văn bằng; xây dựng chương trình và nguồn tài nguyên hồ trợ trực tiếp; quyền thiết lập và kiểm soát chương trình đào tạo và ban hành các quy định tổ chức để triển khai hoạt động khoa bảng.