CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ TRỊ TÀI TRỢ 1.1 Một số khái niệm về quản trị nguồn tài trợ Nguồn tài trợ của doanh nghiệp chính là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, hay còn gọi là nguồn hình thành nên tài sản của doan nghiệp Quản trị tài trợ là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài trợ, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Quản trị tài trợ là một chương trong Quản trị tài chính nên những nội dung của nó cũng gần giống với các nội dung trong Quản trị tài chính bao gồm : hoạch định ( lập kế hoạch ), ra quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm soát tài trợ vốn kinh doanh Hoach định là việc xác định mục tiêu và mục đích mà tổ chức phải hoàn thành trong tương lai và quyết định các cách thức để đạt được các mục tiêu đó. Ra quyết định là việc lựa chọn 1 phương án hành động hợp lý nhất trong số nhiều phương án đã dự kiến và đưa vào xem xét. Tổ chức thực hiện là quá trình tạo ra một cơ cấu các mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức thông qua đó cho phép họ thực hiện các kế hoạch và hoàn thành các mục tiêu chung của tổ chức bằng cách thiết lập 1 tổ chức hoạt động hữu hiệu giúp các nhà quản trị có thể phối hợp tốt hơn các nguồn lực.
Kiểm soát là quá trình giám sát 1 cách chủ động đối với một công việc hay một tổ chức thực hiện nhiệm vụ và tiến hành những hoạt động điều chỉnh cần thiết để đạt đực những hiệu suất công việc cao nhất, chi phí ít nhất. Tài trợ vốn là một hình thức huy động vốn Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của chủ DN, DN có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt. Vốn nợ là các khoản vốn được hình thành từ vốn vay của các NHTM, các tổ chức tài chính, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, vốn vay từ người lao động trong DN, các khoản nợ phát sinh từ hoạt động mua bán chịu hàng hóa và đi thuê tài chính dưới hình thức thuê hoạt động và thuê tài chính. Tài trợ ngắn hạn: là các nguồn tài trợ có thời gian hoàn trả trong vòng 1 năm.
Tài trợ ngắn hạn được thể hiện chủ yếu dưới các hình thức như nợ tích lũy, mua chịu GVHD: ThS. Đàm Thị Thanh Huyền 4 SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán hàng hóa, vay ngắn hạn ( từ các tổ chức tín dụng, người lao động trong doanh nghiệp.) và thuê hoạt động. Tài trợ dài hạn: là các nguồn tài trợ có thời gian đáo hạn dài hơn 1 năm. Tài trợ dài hạn được thể hiện chủ yếu dưới các hình thức: huy động vốn cổ phần ( vốn chủ sở hữu) qua phát hành cổ phiếu, vay nợ dài hạn, phát hành trái phiếu và thuê tài chính.2 Nội dung lý thuyết liên quan tới quản trị nguồn tài trợ 1.1 Phân loại nguồn tài trợ 1.1 Căn cứ vào quyền sở hữu Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu , chi phối và định đoạt.
Bao gồm vốn đầu tư ban đầu và vốn bổ sung trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Các khoản nợ: là các khoản vốn được hình thành từ vốn vay của các Ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, vốn vay từ người lao động trong doanh nghiệp, các khoản nợ phát sinh từ hoạt động mua bán chịu hàng hóa và đi thuê tài sản dưới các hình thức thuê hoạt động và thuê tài chính. Các nguồn vốn khác: Ngoài các nguồn vốn nêu trên, vốn kinh doanh của doanh nghiệp còn có thể được tài trợ bằng các nguồn khác như: Các khoản nợ tích lũy , nguồn vốn liên doanh, liên kết.2 Căn cứ vào thời gian sử dụng vốn Tài trợ ngắn hạn: là các nguồn tài trợ có thời gian hoàn trả trong vòng 1 năm. Tài trợ ngắn hạn được thể hiện chủ yếu dưới các hình thức như nợ tích lũy, mua chịu hàng hóa, vay ngắn hạn ( từ các tổ chức tín dụng, người lao động trong doanh nghiệp.) và thuê hoạt động. Tài trợ dài hạn: là các nguồn tài trợ có thời gian đáo hạn dài hơn 1 năm.
Tài trợ dài hạn được thể hiện chủ yếu dưới các hình thức: huy động vốn cổ phần ( vốn chủ sở hữu) qua phát hành cổ phiếu, vay nợ dài hạn, phát hành trái phiếu và thuê tài chính.2 Các nguồn tài trợ ngắn hạn 1.1 Các khoản nợ tích lũy ( nguồn tài trợ ngắn hạn không do vay mượn ) Các khoản nợ tích lũy chủ yếu gồm: Các khoản phải trả công nhân viên nhưng chưa đến hạn trả, thuế phải nộp ngân sách nhà nước , tiền đặt cọc của khách hàng. Đàm Thị Thanh Huyền 5 SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán khoản nợ tích lũy này thường tự phát thay đổi cùng với các hoạt động kinh doanh của DN. Khi DN mở rộng hoạt động, các khoản đó cũng tăng lên và khi thu hẹp sản xuất kinh doanh thì chúng cũng giảm theo. Nợ tích lũy là nguồn tài trợ " miễn phí" bơi lẽ DN có thể sử dụng tiền mà không phải trả lãi cho đến ngày thanh toán.
Tuy nhiên phạm vi sử dụng các khoản nợ này là có giới hạn. DN chỉ có thể trì hoãn nộp thuế trong điều kiện cực kì khó khăn về tài chính và phải chịu phạt, hay nếu DN chậm trả lương sẽ giảm tinh thần làm việc của công nhân.2 Tín dụng thương mại ( tín dụng nhà cung cấp ) Trong nền kinh tế thị trường, các DN có thể sử dụng tài trợ bằng cách mua chịu của nhà cung cấp. Phương thức giao dịch mua nguyên liệu, hàng hóa trả chậm ( trả một lần hoặc trả góp) đã trở thành một hình thức cấp tín dụng cho DN. Tiền mua hàng được đưa vào bảng cân đối kế toán với tên gọi là khoản phải trả.
Khoản phải trả này thế hiện trong số tiền mà DN nợ các nhà cung cấp. Tín dụng thương mại là nguồn tài trợ ngắn hạn được các DN ưa chuộng bởi thời hạn thanh toán rất linh hoạt. Công cụ để thực hiện loại hình tín dụng này phổ biến là dùng hối phiếu và lệnh phiếu. Mức độ sử dụng tín dụng thương mại của một DN tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chi phí của khoản tín dụng là yếu tố quan trọng.3 Tín dụng ngân hàng Quan hệ tín dụng ngắn hạn giữa DN và ngân hàng hoặc với các tổ chức tài chính trung gian khác có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: vay từng lần, vay theo hạn mức tín dụng, tín dụng thấu chi, chiết khấu chứng từ có giá, bao thanh toán, vay theo hợp đồng.
* Vay từng lần Vay từng lần là hình thức vay trong đó việc vay và trả nợ được xác định theo từng lần vay vốn. Thủ tục vay: mỗi khi có nhu cầu vay DN cần làm đơn xin vay gửi đến ngân hàng các giấy tờ chứng minh đủ điều kiện vay, ngân hàng sẽ thông báo cho DN và hai bên sẽ tiến hành ký kết một hợp đồng tín dụng, hoặc người vay lập khế ước nhận nợ. Khế ước nhận nợ thường bao gồm một số nội dung cơ bản như : Tổng số tiền vay, thời hạn vay, các kỳ hạn trả nợ gốc, mức trả nợ trong mỗi kỳ hạn, lãi suất vay và cách thức trả lãi. Đàm Thị Thanh Huyền 6 SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán Cho vay từng lần thường được ngân hàng áp dụng đối với khách hàng có tiềm lực tài chính hạn chế, có quan hệ vay trả không thường xuyên, không có uy tín với ngân hàng.
Xét về phía người đi vay, hình thức vay từng lần có một số bất lợi, đó là tốn nhiều thời gian cho việc thực hiện các thủ tục vay vốn từng lần, DN có thể lâm vào tình trạng bị động về nguồn vốn nếu không có đủ điều kiện vay ngân hàng. Mặt khác, trong quá trình sử dụng vốn vay nhà quản trị tài chính cần phải thường xuyên theo dõi tình hình tài chính để chủ động trả nợ ngân hàng nếu có điều kiện tài chính cho phép nhằm rút ngắn thời gian vay và để giảm thiểu chi phí trả lãi vay. * Vay theo hạn mức tín dụng Cho vay theo hạn mức tín dụng là phương pháp cho vay trong đó việc cho vay và thu nợ được thực hiện phù hợp với qua trình luân chuyển vật tư hàng hóa của người vay, với điều kiện mức dự nợ tại bất kỳ mọi thời điểm trng thời hạn đã ký kết không được phép vượt qua hạn mức tín dụng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Hạn mức tín dụng : là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà ngân hàng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Cho vay theo hạn mức thường được ngân hàng áp dụng với các khách hàng có quan hệ vay trả thường xuyên có tín nhiệm với ngân hàng, có tốc độ luân chuyển vốn lưu động và vốn vay nhanh. Thủ tục vay vốn: trước kỳ kế hoạch ( thường là quý) người vay phải gửi tới các ngân hàng các loại giấy tờ sau: - Báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán ( quý) - Các hợp đồng kinh tế liên quan , các chứng từ, dự toán chi phí. Sau khi thẩm định hồ sơ xin vay, nếu chấp nhận cho vay ngân hàng và khách hàng sẽ ký hợp đồng tí dụng theo quý, trong đó có xác định rõ một số nội dung cơ bản như : Hạn mức tín dụng số vòng quay vốn vay, tổng doanh số trả nợ trong quý. Sau khí ký hợp đồng tín dụng, khi có nhu cầu sử dụng vốn vay, người vay chỉ cần lập bảng kê chứng từ xin vay nộp cho ngân hàng.
Ngân hàng sẽ phát tiền vay cho khách hàng vay nếu chứng từ hợp lý và còn hạn mức tín dụng. Trả nợ vay: Khi có tiền thu bán hàng, người cho vay phải nộp toàn bộ vào tài khoản tiền vay để đảm bảo doanh số trả nợ và vòng quay vốn vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, phần còn lại chuyển về tài khoản tiền gửi để sử dụng. Lãi vay GVHD: ThS.