LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Tự do hóa thƣơng mại là vấn đề thời sự mà các quốc gia trên thế giới hiện nay đa phần đều hƣớng tới. Hầu hết các nƣớc đều nhận thức rõ đƣợc tầm quan trọng và những lợi ích mà quốc gia có thể đạt đƣợc khi tham gia vào xu thế này. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó khi đã và đang tích cực tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia ký kết các thỏa thuận, các hiệp định song phƣơng và đa phƣơng với các quốc gia ở khu vực và thế giới.
Mốc đánh dấu điển hình là khi Việt Nam ký hiệp định thƣơng mại song phƣơng BTA với Hoa Kỳ vào năm 2000. Sau đó là việc gia nhập các hiệp hội, tổ chức, diễn đàn nhƣ: Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO). Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dƣơng (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM)… Trong năm 2015, Việt Nam đã kết thúc đàm phán Hiệp định Thƣơng mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và đặc biệt vừa hoàn tất đàm phán Hiệp định đối tác chiến lƣợc xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP). Đây là những dấu mốc điển hình cho việc chủ động và tích cực của Việt Nam trƣớc xu thế này.
Khi thực hiện tự do hóa thƣơng mại, các quốc gia luôn phải xác định những ngành kinh tế chủ đạo có lợi thế cạnh tranh để tập trung ƣu tiên phát triển. Đối với Việt Nam, điều kiện địa lý là yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế theo hƣớng biển, đặc biệt là kinh doanh vận tải biển. Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3.260km từ Bắc xuống Nam, chiếm tỷ lệ khoảng 100km2 đất liền/1km bờ biển trong khi mức trung bình trên thế giới là 600km2 đất liền/1km bờ biển. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 về Chiến lƣợc biển Việt Nam đến năm 2020 đƣợc thông qua tại Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW Đảng khóa X đã xác định rõ kinh tế hàng hải là ngành kinh tế đứng thứ 2 sau Dầu khí, và phấn đấu sau 20 năm sẽ vƣơn lên dẫn đầu.
Đây là một cơ sở quan trọng cho chiến lƣợc phát triển vận tải biển trong tƣơng lai. Vận tải biển chiếm khoảng từ 70-80% lƣu chuyển hàng hóa thƣơng mại, đóng góp không nhỏ vào giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nhất là trong hoạt động xuất - nhập khẩu. Khi Việt Nam tham gia vào xu thế toàn cầu là tự do hóa thƣơng mại, cả Chính phủ và các doanh nghiệp vận tải biển đều trông chờ những cơ hội, những tác động tích cực đến lĩnh vực này. Đó có 2 thể là sự cạnh tranh để đƣợc cọ xát và lớn mạnh hơn, và có thể là sự hợp tác để cùng hƣởng lợi, cùng xây dựng và phát triển mối quan hệ.
Tuy nhiên, những năm gần đây, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải biển Việt Nam đã và đang gặp rất nhiều bất ổn vì yếu tố khách quan do suy thoái kinh tế toàn cầu là phần nhiều, nhƣng cũng không thể chối bỏ rằng trong xu thế tự do hóa này, lĩnh vực vận tải biển của Việt Nam đã, đang và sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Các doanh nghiệp Việt Nam chƣa đạt đƣợc nhiều lợi trong khi có thể sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức hơn nữa. Trong số các tỉnh thành của Việt Nam có hoạt động vận tải biển mạnh mẽ, Hải Phòng là đƣợc coi là một Việt Nam thu nhỏ với đa dạng các loại hình dịch vụ vận chuyển, dịch vụ hàng hải cũng nhƣ hệ thống cảng biến bến bãi. Có thể nói khi nghiên cứu lĩnh vực vận tải biển tại Hải Phòng cũng phần nào thấy đƣợc lĩnh vực vận tải biển Việt Nam trong đó.
Hải Phòng là một thành phố cảng với lƣu lƣợng hàng hóa ra vào hàng năm cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể trong tổng số của cả nƣớc. Hải Phòng có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội, và an ninh, quốc phòng của vùng Đông Bắc Bộ và cả nƣớc, nằm trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc, một cực tăng trƣởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Hải Phòng với vị trí địa lý vô cùng thuận lợi là cửa ngõ ra biển quan trọng bậc nhất của các tỉnh phía Bắc, với hệ thống cảng biển phát triển từ rất sớm, từ những năm 70 thế kỷ 19. Trong những năm gần đây, lƣợng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Hải Phòng tăng trƣởng nhanh và ổn định.
Tỷ lệ tăng trƣởng trung bình trong các năm qua của hàng hóa đạt 19% /năm và hàng container đạt 29% /năm. Lƣợng hàng hóa thông qua hệ thống Cảng Hải Phòng tăng khoảng 600% trong vòng 10 năm qua. Vận tải biển đã và đang là một ngành mũi nhọn trong việc phát triển kinh tế của địa phƣơng. Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có thể kể đến yếu tố về tự do hóa thƣơng mại của Việt Nam.
Nếu xác định đƣợc tự do hóa thƣơng mại của Việt Nam có tác động nhƣ thế nào đến hoạt động này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc đính hƣớng phát triển của thành phố nói riêng và đất nƣớc nói chung. Chính vì thế, tác giả lựa chọn đề tài “Tác động của tự do hóa thương mại đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển tại Hải Phòng” nhằm mục 3 đích nghiên cứu xem tự do hóa thƣơng mại có tác động nhƣ thế nào đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển tại Hải Phòng. Trên cơ sở phân tích các yếu tố có liên quan đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển trong bối cảnh tự do hóa thƣơng mại, tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển tại Hải Phòng hiệu quả hơn và phát triển xứng đáng với tiềm năng vốn có của thành phố. Mục tiêu nghiên cứu 2.
Mục tiêu chung: Nghiên cứu tác động của tự do hóa thƣơng mại đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển tại Hải Phòng, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển tại Hải Phòng trong bối cảnh tự do hóa thƣơng mại. Mục tiêu cụ thể: - Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan đến luận án ở trong và ngoài nƣớc về các nội dung: tự do hóa thƣơng mại; kinh doanh vận tải biển; mô hình nghiên cứu tác động. - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự do hóa thƣơng mại, kinh doanh vận tải biển và mô hình tác động của tự do hóa thƣơng mại đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển. - Phân tích thực trạng tự do hóa thƣơng mại của Việt Nam và thực trạng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển tại Hải Phòng.
Lập mô hình đo tác động trên cơ sở các số liệu tổng hợp từ các thực trạng trên để đánh giá tác động trên. - Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển tại Hải Phòng trong bối cảnh tự do hóa thƣơng mại căn cứ vào các cơ sở sau: Kết quả chạy mô hình phân tích tác động của tự do hóa thƣơng mại đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển; Căn cứ vào định hƣớng chính sách của Đảng, Nhà nƣớc và của Thành phố Hải Phòng; Các cam kết tự do hóa thƣơng mại trong vận tải biển; Thực trạng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển tại Hải Phòng. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động của tự do hóa thƣơng mại đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển tại Hải Phòng.
Phạm vi nghiên cứu 3. Về nội dung nghiên cứu Luận án nghiên cứu về lĩnh vực vận tải biển về vận chuyển hàng hóa, không bao gồm nghiên cứu vận tải hành khách và các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển. Luận án tập trung vào phân tích tác động của tự do hóa thƣơng mại hàng hóa đối với vận tải biển. Về không gian nghiên cứu Khi phân tích tác động của tự do hóa thƣơng mại đến một ngành nghề, lĩnh vực hay một địa phƣơng thì thƣờng phải nghiên cứu chính sách thƣơng mại quốc tế của quốc gia, tức là đặt ngành nghề, lĩnh vực hay địa phƣơng đƣợc nghiên cứu trong bối cảnh quốc gia và quốc tế.
Chính vì thế trong luận án này, không gian nghiên cứu sẽ là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển tại địa bàn Hải Phòng và đặt trong bối cảnh tự do hóa thƣơng mại của Việt Nam. Về thời gian nghiên cứu Nghiên cứu về quá trình tự do hóa thƣơng mại ở Việt Nam có thể lựa chọn nhiều giai đoạn khác nhau kể từ năm 1986 khi Đảng và Nhà nƣớc có sự đổi mới mạnh mẽ trong quan điểm và chiến lƣợc phát triển kinh tế đất nƣớc. Tuy nhiên, tác giả lựa chọn mốc năm 2000 thay vì thời gian trƣớc đó vì một số lý do: Thứ nhất, sau đổi mới, việc tiến hành tự do hóa thƣơng mại chƣa đạt đƣợc thành tựu đáng kể. Thứ hai, năm 2000 là năm đánh dấu đậm nét về tự do hóa thƣơng mại của Việt Nam, sau khi Mỹ bình thƣờng hóa quan hệ với Việt Nam và ký Hiệp định thƣơng mại song phƣơng BTA.
Kể từ đó trở đi, Việt Nam không ngừng mở rộng và phát triển mối quan hệ với các quốc gia và các vùng lãnh thổ, tích cực tham gia đàm phán, ký kết các hiệp định về tự do hóa thƣơng mại. Chính vì thế, về phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án, tác giả tập trung nghiên cứu hoạt động tự do hóa thƣơng mại, tự do hóa thƣơng mại trong lĩnh vực vận tải biển của Việt Nam và hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển tại Hải Phòng trong giai đoạn 2000 – 2015. Phƣơng pháp nghiên cứu, khung lý thuyết nghiên cứu, thông tin và dữ liệu đƣợc sử dụng trong nghiên cứu 4.