CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TỚI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TỪ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 1.1 Các nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng phương pháp định tính Nghiên cứu tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường bằng phương pháp định tính thường được sử dụng để tổng kết tình hình kinh tế - xã hội sau một thời gian ký kết các hiệp định thương mại. Đối với lĩnh vực nông - ngư nghiệp, theo chính sách thương mại đa phương, sản xuất lương thực và thực phẩm trên thế giới dịch chuyển từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, để tăng cường sử dụng nguồn lao động thay thế chất hoá học sử dụng trong sản xuất. Ảnh hưởng đến môi trường bởi tự do hóa thương mại nông- ngư nghiệp phụ thuộc vào việc sản xuất nông - ngư nghiệp được chuyển từ các nước sản xuất không có hiệu quả sang các nước có hiệu quả hơn (Department of Rural Economy, 2006). Cũng nghiên cứu tác động của tự do thương mại tới môi trường trong lĩnh vực thủy sản, UNEP (United Nations Environment Programme) có chuỗi báo cáo chỉ ra các thành phần môi trường bị ô nhiễm bởi quá trình mở rộng sản xuất và chế biến thủy sản.
Đây là lý thuyết thay đổi quy mô sản xuất. Trong đó, nước và không khí là hai thành phần môi trường bị ô nhiễm nhiều nhất. Vì vậy, trong luận án NCS lựa chọn thành phần môi trường là nước và không khí cùng với lý thuyết thay đổi quy mô sản xuất để nghiên cứu. (UNEP, 1999b; UNEP, 1999a) Một trong những nghiên cứu định tính tiêu biểu về tác động của tự do thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp là nghiên cứu của WB công bố năm 1999.
Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều nước đang phát triển đã thực sự bị dồn vào thế buộc phải đấu tranh chống lại nạn ô nhiễm công nghiệp. Thực tế cho thấy, lợi ích của việc kiểm soát ô nhiễm lớn hơn nhiều so với các chi phí. Nhận thức này đã thúc đẩy nhiều nước thông qua các chiến lược đổi mới lôi kéo sự tham gia của các cộng đồng địa phương, người tiêu dùng, các nhà đầu tư và các nhà cải cách chính sách kinh tế vào trận chiến chống lại nạn ô nhiễm môi trường. Về phần mình, những cơ sở gây ô nhiễm nhận thấy không còn chỗ cho họ che đậy những gian lận về môi trường, và họ có thể 7 giảm ô nhiễm mà vẫn đảm bảo lợi nhuận nếu các nhà quản lý môi trường đưa ra những khích lệ thích đáng.
Ô nhiễm công nghiệp vẫn tiếp tục là một cái giá quá đắt đối với các nước đang phát triển, nhưng không thể tiếp tục coi ô nhiễm công nghiệp như là giá phải trả cho sự phát triển, đây chính là thông điệp và luận điểm mà NCS hướng tới trong luận án của mình. Bởi vì, trong giai đoạn đầu của phát triển, các nước đang phát triển thường tập trung vào các nguồn lực hạn hẹp của mình. Các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm thường cố định, dễ xác định, dễ tuân thủ việc kiểm soát ô nhiễm hơn là các cơ sở gây ô nhiễm như hộ gia đình, các cơ sở sản xuất không chính thống và các phương tiện vận tải có động cơ (WB, 1999b). Các loại phát thải từ công nghiệp cũng là kênh thú vị để tiến hành phân tích, so sánh, bởi vì nó thay đổi nhiều hơn so với phát thải từ các nguồn khác.
Công nghiệp phát thải hàng trăm chất gây ô nhiễm ở dạng khí, lỏng và rắn, góp phần tạo mù, gây ô nhiễm hữu cơ nguồn nước, chất thải rắn nguy hại và hủy hoại cộng đồng và các hệ sinh thái. Các nghiên cứu sẽ đưa ra một nguồn thông tin phong phú cho việc đưa ra các chính sách môi trường hợp lý về: nguồn gây ô nhiễm, ảnh hưởng của nó, đối với việc hủy hoại môi trường và những khác biệt về chi phí để kiểm soát ô nhiễm. Thay cho việc đưa ra một biện pháp xử lý thấu đáo các vấn đề về kiểm soát ô nhiễm công nghiệp thì nghiên cứu của WB lại nhấn mạnh một số kinh nghiệm hiện có về cải tổ quản lý và các chính sách kinh tế đã được ghi nhận trên thế giới. Từ những kinh nghiệm này là cơ sở để NCS đưa ra các giải pháp chính sách ở Việt Nam (WB, 1999a).Ubben nghiên cứu “Tự do hóa thương mại và chất lượng môi trường: quan điểm đối lập, vấn đề bổ sung, và sự can thiệp cần thiết”.
Trong nghiên cứu này, ông tập trung nghiên cứu các quan điểm và đề xuất những chính sách hạn chế tác động của thương mại tới môi trường. Để nắm bắt được quan điểm của các nhà quản lý, ông đã tiến hành phương pháp phỏng vấn. Đây cũng chính là phương pháp mà NCS sử dụng trong nghiên cứu của mình (Ubben, 2000). Dựa vào sự hội nhập kinh tế của các nước Tây Bán Cầu, Gray, Krisoff và Tsigas nhận thấy rằng tự do hóa thương mại có thể làm giảm chất lượng môi trường ở Mexico và Braxin nếu không có sự kết hợp các chính sách về môi trường nghiêm ngặt.
Những phân tích của họ nêu rõ lợi ích của hội nhập kinh tế, nhưng những lợi ích này chỉ tăng lên khi có sự kết hợp hài hoà với các chính sách môi trường của các nước Tây Bán Cầu. Điều này còn được chứng minh bằng thực nghiệm ở các nước đang phát triển. Đây chính là cơ sở để NCS nghiên cứu ở Việt Nam (Tsigas và cộng sự, 2004). 8 Năm 2005, Viện Nghiên cứu thương mại - Bộ Công thương có báo cáo ”Các quy định quốc tế về thương mại và môi trường liên quan đến cấm nhập khẩu, cấm lưu thông các hoàng hóa ảnh hưởng tới môi trường”, đăng ở Bắc Việt Luật, liệt kê và phân tích những quy định quốc tế về thương mại và môi trường đối với các hàng hóa cấm nhập khẩu, lưu thông ảnh hưởng tới môi trường Việt Nam.
Đây là kênh tiếp cận mới dựa trên những quy định và rào cản kỹ thuật để bảo vệ môi trường trong thời kỳ tự do thương mại (MOIT, 2005). Khi trở thành thành viên của WTO, môi trường của Việt Nam sẽ gặp phải những rủi ro nếu như chính sách, cơ chế về môi trường yếu kém, ngược lại đó cũng là cơ hội để cải thiện môi trường (Lan, 2006). Một khía cạnh khác cần quan tâm là các vụ kiện thương mại liên quan đến môi trường. Trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có một ví dụ điển hình về việc phá “hàng rào xanh” nhờ áp dụng quy tắc minh bạch và không phân biệt đối xử của WTO.
Năm 2008, tạp chí hoạt động Khoa học văn phòng TBT Việt Nam đã tổng hợp và đăng bài: Bài học về thương mại và môi trường - Nhìn từ một vụ kiện trong WTO (Văn phòng TBT Việt Nam, 2010). Cùng thời gian đó, Nguyễn Thế Chinh dẫn đầu nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài “Phân tích một số trường hợp tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường của Việt Nam và trên thế giới. Đề xuất giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế các tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường của Việt Nam trong thời gian tới”, trong đó làm rõ những nguyên nhân xảy ra tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường. Đồng thời có những giải pháp và định hướng cho thương mại Việt Nam tránh khỏi những tranh chấp (Nguyễn Thế Chinh, 2008).
Trong khuôn khổ Dự án Hỗ trợ Chính sách Thương mại và Đầu tư của châu Âu, EU-MUTRAP (European Trade Policy anh Investment Support Project), bản tin MUTRAP có bài ”Đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU” (MUTRAP, 2014a), trong đó, các nhà kinh tế đã phân tích tác động của tự do thương mại tới môi trường ở Việt Nam, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường và khai thác tài nguyên gia tăng. Cũng trong khuôn khổ Dự án, tháng 10 năm 2014, MUTRAP và Trường Đại học Ngoại thương tổ chức hội thảo ”Những điều khoản môi trường trong các hiệp định FTA của EU” (MUTRAP, 2014b), hội thảo đã đánh giá tác động của tự do thương mại tới môi trường cả mặt tích cực và tiêu cực, trong đó tập trung vào vấn đề đa dạng sinh học. Việt Nam là một trong những nước có đa dạng sinh học lớn trên thế giới, là một phần của điểm nóng Ấn- Miến, bao gồm các trung tâm đặc hữu về các loài sinh vật, đặc biệt là tại các khu rừng nguyên sinh ở các vùng núi, vùng trũng nằm biệt lập ở một số nơi và các lưu vực sông, như rừng ngập mặn. Nhưng sự tăng trưởng kinh tế, 9 đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh đã làm tăng áp lực đối với môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
Nhìn chung, phương pháp định tính phân tích tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường dựa trên quan điểm, phương thức quản lý và các điều khoản môi trường của một quốc gia trong tiến trình ký kết, thực hiện các hiệp định thương mại. Từ các nghiên cứu thực tiễn đều chỉ ra rằng: thương mại có ảnh hưởng lớn tới môi trường. Thành phần môi trường được lựa chọn nghiên cứu phổ biến là nước, không khí. Các quốc gia đang phát triển nếu không có các chính sách, quy định, rào cản để hạn chế những tác động của thương mại tới môi trường thì vấn đề môi trường sẽ trở nên trầm trọng hơn.
Việt Nam có nằm trong quy luật của các nước đang phát triển hay không? Đó chính là khoảng trống của mà luận án nghiên cứu.2 Các nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng phương pháp định lượng Đánh giá tác động của tự do hóa thương mại tới môi trường bằng các phương pháp định lượng được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới. Sự phát triển lý thuyết ban đầu của các cuộc tranh luận giữa thương mại - môi trường có thể được biết đến từ các nghiên cứu của (Pethig, 1976; Siebert, 1977), (McGuire, 1982).