Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 1. Các khái niệm liên quan 1. Chất thải rắn Theo quan niệm chung: Chất thải rắn (CTR) (Solid Waste) là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng v. Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống [23, tr.
Theo quan điểm mới: CTR là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. CTR bao gồm CTR thông thường và chất thải rắn nguy hại (CTRNH). CTR phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải sinh hoạt. CTR phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp (CTRCN).
CTR được thải ra từ mọi hoạt động của đời sống xã hội. Trong số đó thì nhà dân, khu dân cư; bệnh viện, cơ sở y tế và các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp dịch vụ thương mại (chợ) là những nơi có lượng thải lớn hơn cả. Thông thường, CTRSH được phân loại theo mức độ nguy hại đối với con người và sinh vật. Việc phân loại CTRSH theo mức độ nguy hại nhằm phục vụ việc nghiên cứu, sử dụng, kiểm soát và quản lý chất thải có hiệu quả.
Theo cách phân loại này, CTRSH bao gồm: + CTRSH thông thường (sau đây sẽ gọi là CTRSH): là những CTRSH không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp, thường là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia đình, ở các khu đô thị… + Chất thải nguy hại (CTNH) trong sinh hoạt: là những CTNH bị thải lẫn vào CTRSH mang đến bãi chôn lấp, tỷ lệ từ 0,02 - 0,82%. CTNH bao gồm các chất dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, các chất nhiễm khuẩn độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất thải phóng xạ, các kim loại nặng… Các CTNH này tiềm ẩn khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe doạ tới sức khoẻ con người và sự phát triển 7 Luan van của các loài động thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí. Ảnh hưởng của CTR đến môi trường - CTR làm ô nhiễm môi trường nước: Các CTR nếu là chất hữu cơ, trong môi trường nước sẽ bị phân hủy một cách nhanh chóng. Phân nổi lên mặt nước sẽ có quá trình khoáng hóa chất hữu cơ để tạo ra các sản phẩm trung gian sau đó là những sản phẩm cuối cùng là chất khoáng và nước.
- Chất thải làm ô nhiễm môi trường đất: Các chất hữu cơ còn được phân hủy trong môi trường đất trong hai điều kiện yếm khí và háo khí, khi có độ ẩm thích hợp qua hàng loạt sản phẩm trung gian cuối cùng tạo ra các chất khoáng đơn giản, các chất H2O, CO2. - CTR làm ô nhiễm môi trường không khí: Các CTR thường có bộ phận có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí. Cũng có những chất thải có khả năng thăng hoa, phát tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp. Cũng có loại CTR, trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (35oC và độ ẩm 70-80%) sẽ có quá trình biến đổi nhờ hoạt động của vi sinh vật.
Kết quả là môi trường không khí bị ô nhiễm. - Nước rỉ rác và tác hại: bãi rác hoặc những đống rác lớn, trong đó có một lượng nước nhất định hoặc do mưa ngấm vào rác sẽ tạo ra một loại nước rò rỉ. Trong đó chứa những chất hòa tan, những chất lơ lửng, chất hữu cơ và nấm bệnh… Khi nước này ngấm vào đất làm ô nhiễm môi trường đất một cách trầm trọng. Mặt khác, nó cũng làm ô nhiễm môi trường nước thổ nhưỡng và nước ngầm.
Quản lý chất thải rắn Quản lý chất thải rắn (QLCTR) là sự kết hợp kiểm soát nguồn thải, phát sinh, giảm thiểu, thu gom, lưu giữ, phân loại, trung chuyển, vận chuyển, xử lý, tái chế, tiêu huỷ và thải bỏ CTR theo phương thức tốt nhất nhằm đảm bảo không ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, thỏa mãn các yếu tố về kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn cảnh quan đô thị và hạn chế các vấn đề môi trường liên quan. Phương pháp QLCTR phải tuân theo các nguyên tắc hợp lý, giải quyết tốt nhất các vấn đề kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, thẩm mỹ, phản ứng của cộng đồng và các vấn đề liên quan. QLCTR bao gồm tất cả các vấn đề về hành chính, tài chính, 8 Luan van pháp luật, kinh tế - xã hội (KT-XH), y tế, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, quy hoạch xây dựng và khoa học kỹ thuật, công nghệ để giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến CTR. Mục đích của QLCTR là bảo vệ sức khoẻ của cộng đồng, BVMT, sử dụng tối đa vật liệu, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng; tái chế và sử dụng tối đa chất thải hữu cơ, giảm thiểu CTR.
Nguyên tắc QLCTR bao gồm: (1) Tổ chức, cá nhân xả thải hoặc có hoạt động làm phát sinh CTR phải nộp phí cho việc thu gom, vận chuyển CTR; (2) Chất thải phải được phân loại tại nguồn phát sinh, được tái chế, tái sử dụng và thu hồi các thành phần có ích làm nguyên liệu và sản xuất năng lượng; (3) Nhà nước khuyến khích việc xã hội hóa công tác thu gom, phân loại, vận chuyển CTR. Lưu giữ CTR là việc lưu giữ CTR trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. Vận chuyển CTR là quá trình chuyên chở CTR từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. Xử lý CTR là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong CTR, thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong CTR.
Chôn lấp CTR hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh. Khu liên hợp xử lý CTR là tổ hợp của một hoặc nhiều hạng mục công trình xử lý, tái chế, tái sử dụng CTR và bãi chôn lấp CTR. Quy hoạch QLCTR là quy hoạch chuyên ngành xây dựng, bao gồm các hoạt động điều tra, khảo sát, dự báo chi tiết nguồn và tổng lượng phát thải các loại CTR thông thường và nguy hại; xác định vị trí, quy mô các trạm trung chuyển, phạm vi thu gom, vận chuyển; xác định vị trí, quy mô cơ sở xử lý CTR trên cơ sở đề xuất công nghệ xử lý thích hợp, xây dựng kế hoạch và nguồn lực nhằm thu gom và xử lý triệt để CTR. Quy hoạch QLCTR bao gồm quy hoạch vùng liên tỉnh, vùng tỉnh… được lập cho giai đoạn 10 năm, 20 năm hoặc dài hơn tuỳ theo giai đoạn lập quy hoạch xây dựng.
CTR sau khi thải ra môi trường sẽ được đội ngũ công nhân chịu trách nhiệm gom nhặt, tách và lưu trữ tại nguồn. Mục đích của giai đoạn này là phân loại được các loại CTR nhằm thu hồi lại các thành phần có ích trong CTR mà 9 Luan van chúng ta có thể sử dụng được, hạn chế việc khai thác các tài nguyên sơ khai, giảm bớt khối lượng CTR phải vận chuyển. Những loại CTR sau khi phân loại nếu không còn giá trị thu hồi thì sẽ được thu gom lại vận chuyển đến nơi tiêu hủy. Với những loại CTR vẫn còn có giá trị sử dụng thì sẽ được đưa vào xử lý, tái chế.
Đây là một việc làm có ý nghĩa rất lớn tới kinh tế - xã hội và môi trường. Tiếp tục quá trình này, những loại CTR bị loại bỏ cuối cùng sẽ được đem đi tiêu hủy. Các bộ phận cấu thành một hệ thống QLCTR và mối quan hệ giữa chúng được mô tả như sau: Các yêu cầu cơ bản của hệ thống QLCTR bao gồm: - Thu gom, vận chuyển hết CTR; - Hiệu quả kinh tế (thu gom, xử lý tốt nhất với chi phí thấp nhất); - Áp dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến; - Bảo đảm tốt nhất sức khỏe cộng đồng; - Bảo đảm mỹ quan. Chính sách quản lý chất thải rắn Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của Chính phủ bao gồm các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó.
Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường. Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định. Hoạt động thu gom CTR về bản chất là hoạt động tập hợp CTR từ nơi phát sinh thông qua các phương tiện vận chuyển chuyên dụng về khu vực tập trung để xử lý theo quy định. Hoạt động thu gom CTR (theo Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam) bao gồm: Việc thu gom CTR từ hộ gia đình và các cơ sở kinh doanh bằng túi, xe rác và thùng chứa.
Nó gồm việc thu gom CTR độc hại và không độc hại, ví dụ như CTR từ hộ gia đình, dầu và mỡ nấu đã qua sử dụng, dầu thải ra từ tàu thuyền và dầu đã dùng của các gara ôtô, CTR từ công trình xây dựng và bị phá hủy… 10 Luan van Từ lý luận về “Chính sách công”, “Chất thải rắn” nêu trên, có thể định nghĩa sau: chính sách quản lý chất thải rắn là tập hợp các quyết định có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách để thực hiện việc quản lý CTR nhằm bảo vệ môi trường theo mục tiêu tổng thể đã xác định. Nội dung quản lý nhà nước về CTR bao gồm: (1) Ban hành các chính sách, văn bản pháp luật về hoạt động QLCTR, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về QLCTR và hướng dẫn thực hiện các văn bản này.