Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Tăng trưởng kinh tế luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu đối với chính phủ các quốc gia trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ tạo tiền đề thúc đẩy phát triển đất nước về mọi mặt như tăng vốn tích lũy để đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao mức sống của người dân, cải thiện các vấn đề phúc lợi xã hội như văn hóa, giáo dục và y tế (Ranis và cộng sự, 2000; Madsen, 2002). Trong mối liên hệ với quá trình tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội hiện nay của hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển.
Đã có sự thừa nhận rộng khắp rằng, mối liên hệ giữa các yếu tố địa lý và việc thực thi các chiến lược, chính sách của các quốc gia có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế vùng. Thật vậy, ngoài các yếu tố truyền thống có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế như nguồn vốn, lao động, giáo dục, y tế, thể chế, FDI,… thì gần đây có những nghiên cứu khẳng định các yếu tố về mặt địa lý như nhiệt độ, lượng mưa, độ cao, có tiếp giáp với sông lớn, có tiếp giáp biển có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia và vùng lãnh thổ (Bao và cộng sự, 2002; Nordhaus & Chen, 2009; Kalkuhl & Wenz, 2020). Các yếu tố địa lý có một vai trò nhất định trong việc phát triển kinh tế vùng và kinh tế của một quốc gia. Một nhà máy hoặc một khu công nghiệp nếu được đặt tại một vị trí địa lý thuận lợi sẽ có cơ hội phát triển tốt hơn nếu được đặt tại một vị trí địa lý bất lợi.
Việt Nam có sự đa dạng về mặt địa lý và khí hậu nên thuận lợi việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. Theo Cổng thông tin Chính phủ (2021), Việt Nam có chiều dài bờ biển lên tới 3. Trên chiều dài từ Bắc xuống Nam, Việt Nam có 28/63 tỉnh thành có ranh giới tiếp giáp biển. Việt 1 Nam cũng có 2 hệ thống sông lớn là hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Mê – Kông.
Địa thế đã tạo nên sự phân hóa vừa đa dạng, vừa phức tạp từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và từ thấp đến cao. Từ sự đa dạng về địa lý trên, Việt Nam có các vùng khí hậu khác nhau. Miền Bắc thường có khí hậu bốn mùa, đặc trưng bởi mùa hè nóng và ẩm, mùa đông mát và khá lạnh. Ngược lại, miền Nam khí hậu có hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa.
Miền Trung là mảnh đất có khí hậu tương đối khắc nghiệt, mùa hè thì thời tiết khô nóng do ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam, đồng thời cũng là khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng bởi bão và lũ lụt. Cuối cùng, Việt Nam là nước dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu. Theo đánh giá hàng năm về những nước chịu ảnh hưởng nặng nhất bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan giai đoạn 1997 – 2016, Việt Nam đứng thứ 5 về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2016 và thứ 8 về Chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn trong 179 quốc gia được đánh giá (Eckstein và cộng sự 2017). Trong bối cảnh biến đổi khí hậu như ngày nay thì việc nghiên cứu các yếu tố địa lý, trong đó có khí hậu, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế là một việc cần thiết nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tăng trưởng kinh tế vùng tại Việt Nam.
Tuy nhiên tại Việt Nam, tôi chưa tìm thấy nghiên cứu định lượng nào phân tích ảnh hưởng của yếu tố địa lý như nhiệt độ, lượng mưa đến tăng trưởng kinh tế các tỉnh thành. Do đó, đứng ở góc độ lý thuyết, đề tài góp phần cung cấp thêm bằng chứng về tác động của nhiệt độ, lượng mưa đến tăng trưởng kinh tế của các tỉnh thành Việt Nam. Đây là một nhân tố mới, ngoài các nhân tố đã được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam như nguồn vốn, lao động, FDI, giáo dục, y tế và thể chế. Ngoài ra, đứng ở góc độ chính sách, nếu ta sử dụng các kết quả các nghiên cứu được thực hiện tại các quốc gia khác áp dụng cho tình hình thực tế tại Việt Nam chắc chắn sẽ có những sai lệch đáng kể do có sự khác nhau về mặt thể chế và địa lý giữa Việt Nam và các quốc gia khác.
Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm góp phần cung cấp thêm các bằng chứng thực nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu là thông tin tham khảo bổ ích, giúp các nhà hoạch định chính sách lựa chọn địa điểm đầu tư 2 nhằm tận dụng được các yếu tố địa lợi trong việc phát triển kinh tế của từng vùng, từng địa phương. Xuất phát từ thực tiễn này, nên tôi chọn đề tài “Phân tích các yếu tố tự nhiên tác động đến tăng trưởng kinh tế của các tỉnh thành Việt Nam” để thực hiện luận văn thạc sĩ 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan 1.
Công trình nghiên cứu nước ngoài Trong tác phẩm Geography and Economic development của Gallup, J. L và cộng sự (1999), nhóm tác giả đã phân tích ảnh hưởng của đặc điểm địa lý lên tăng trưởng kinh tế ở 129 quốc gia trong giai đoạn từ 1950 đến 1995 bằng phương pháp nghiên cứu định lượng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng vị trí và khí hậu có ảnh hưởng lớn đến mức thu nhập và tăng trưởng thu nhập thông qua các tác động của chúng về chi phí vận chuyển (quốc gia giáp biển, có sông ngòi lớn sẽ có lợi thế), gánh nặng dịch bệnh và năng suất nông nghiệp, trong số các kênh khác, bệnh nhiệt đới (những quốc gia ở vùng nhiệt đới ẩm ướt thường mắc các bệnh nhiệt đới nhiều hơn dẫn đến năng suất lao động thấp hơn), năng suất nông nghiệp (quốc gia có lượng nắng, mưa vừa đủ, đất đai màu mỡ sẽ có cơ hội phát triển hơn các quốc gia khác). Địa lý dường như cũng ảnh hưởng đến các lựa chọn chính sách kinh tế.
Nhiều vùng địa lý chưa được có lợi cho tăng trưởng kinh tế hiện đại có mật độ dân số cao và đang trải qua dân số tăng nhanh. Đặc biệt bất lợi là các vùng nằm xa bờ biển và các con sông thông qua đại dương, nơi chi phí vận chuyển của thương mại quốc tế cao, và các vùng nhiệt đới, nơi chịu gánh nặng dịch bệnh. Hơn nữa, một phần lớn dân số tăng trưởng trong ba mươi năm tới dự kiến sẽ xảy ra ở những vùng địa lý bất lợi này. Sau đó, Bao và cộng sự (2002) đã thực hiện nghiên cứu định lượng với dữ liệu bảng của 30 tỉnh thành giai đoạn 1978 – 1997 thông qua tác động địa lý đối với tăng trưởng kinh tế khu vực ở Trung Quốc trong quá trình cải cách thị trường trong tác phẩm Geographic factors and China's regional development under market reforms, 3 1978–1998.
Nhóm tác giả phát triển mô hình tăng trưởng khu vực của nền kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn này, đặc trưng bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và huy động lao động thặng dư ở nông thôn. Sự khác biệt, ở một mức độ lớn, được giải thích bởi các yếu tố địa lý. Trong bối cảnh cải cách thị trường và chính sách mở cửa, lợi thế về không gian và địa hình của các tỉnh ven biển được hiện thực hóa. Kết quả chỉ ra rằng các cải cách thị trường, chính sách mở cửa, lợi thế về không gian của các tỉnh ven biển có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc.
Các tỉnh nằm ở khu vực ven biển có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn các khu vực còn lại của cả nước.Vì lợi nhuận đầu tư vào các tỉnh ven biển cao hơn so với các tỉnh còn lại trong cả nước, do đó thu hút nhiều vốn FDI và lao động nhập cư vào khu vực và gây ra sự chênh lệch tăng trưởng. Thử nghiệm thực nghiệm của họ ủng hộ giả thuyết này. Bên cạnh đó, nhóm tác giả còn phát hiện ra rằng các yếu tố địa lý có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích sự chênh lệch khu vực ở Trung Quốc. Sự chênh lệch này chủ yếu là khoảng cách giữa bờ biển và không có bờ biển.
Bloch and Tang (2004) trong tác phẩm Deep determinants of economic growth: institutions, geography and openness to trade đã tìm ra yếu tố quyết định sâu sắc đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, đó là thể chế, địa lý và độ mở đối với thương mại. Kết quả này được nghiên cứu thông qua vai trò của các thể chế và thay đổi kỹ thuật trong việc ảnh hưởng đến mức sống hoặc GDP bình quân đầu người thực tế của các nền kinh tế Đông Á và các cường quốc công nghiệp lớn (14 quốc gia). Ngoài ra, nhóm tác giả còn tìm ra mô hình của sự tăng trưởng, biến động và khủng hoảng: mối liên hệ nhân quả chính giữa các yếu tố quyết định sâu sắc đến tăng trưởng và hoạt động kinh tế vĩ mô. Yếu tố địa lý được đặt ở dưới cùng của biểu đồ để thể hiện tính ngoại lai của nó, nghiên cứu cho thấy địa lý quan trọng đến mức nó ảnh hưởng gián tiếp đến tăng trưởng thông qua các thể chế (mũi tên E) và thương mại (mũi tên F).
(chi tiết xem tại Phụ lục 1. Các kênh tăng trưởng, biến động và khủng hoảng). 4 Ngoài sự thuận lợi của việc gần biển, thì các yếu tố khác như gần các sông lớn, nhiệt độ và lượng mưa vừa phải cũng, độ cao ổn định của khu vực nghiên cứu cũng có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của các khu vực khác nhau. Đó là kết luận của Nordhaus và Chen (2009) trong tác phẩm Geography: Graphics and Economics sau khi các tát giả hồi quy sản lượng đầu ra với các đặc điểm địa lý như vĩ độ, nhiệt độ, lượng mưa, khoảng cách đến biển, khoảng cách đến các sông, hồ lớn và độ cao của các khu vực nghiên cứu.
Nhóm tác giả đã phân tích dữ liệu sản lượng đầu ra với mỗi đơn vị phân tích là chiều ngang bằng 1 kinh độ và chiều dài bằng 1 vĩ độ.500 quan sát trong bộ dữ liệu được nghiên cứu. Ngoài ra, nhóm tác giả đã vẽ bản đồ phân bố thu nhập của tất cả các khu vực khác nhau trên thế giới nhằm chỉ ra ảnh hưởng của các yếu tố địa lý đến sự phân bổ thu nhập theo của các khu vực kinh tế khác nhau.