CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG.1TÀI SẢN LƯU ĐỘNG 1. Khái niệm tài sản lưu động Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp được coi là một tế bào của nền kinh tế với nhiệm vụ chính là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất kỳ quy mô nào, người kinh doanh cần phải có một số tài sản nhất định Theo giáo trình tài chính doanh nghiệp – trường địa học kinh tế quốc dân thì : “TSLĐ là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, TSLĐ được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, khoản phải thu và dự trữ tồn kho”.
(Trích dẫn : mục 6.1, trang 155, khái niệm TSLĐ của doanh nghiệp, giáo trình tài chính doanh nghiệp – trường ĐH kinh tế quốc dân, đồng chủ biên PGS. Lưu Thị Hương, PGS. Vũ Duy Hào) “Nếu căn cứ vào vai trò của tài sản đối với quá trình tái sản xuất, tài sản của doanh nghiệp bao gồm: tư liệu lao động và đối tượng lao động. Tư liệu lao động thường được cấu thành bởi 2 bộ phận là TSCĐ và các công cụ lao động.
Các công cụ lao động này cũng với đối tượng lao động hợp thành TSLĐ của doanh nghiệp Ở Việt Nam, TSLĐ là những tài sản thỏa mãn một trong các điều kiện sau: - Được dự tính để bán hoặc sử dụng trong khuôn khổ của chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. - Được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại, hoặc cho mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 1 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán. - Là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp 1 hạn chế nào. GVHD: Nguyễn Thị Liên Hương SVTH: Lê Viết Năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp 6 Khoa Tài chính - Ngân hàng Như vậy, TSLĐ của doanh nghiệp là toàn bộ những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời gian sử dụng, thu hồi, hoặc luân chuyển giá trị trong vòng 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.” (Trích dẫn : mục 3.1, trang 70, khái niệm TSLĐ của doanh nghiệp, giáo trình quản trị tài chính – trường ĐH Thương Mại, 1.2 Khái niệm quản trị tài chính trong doanh nghiệp Hiện nay, trên thế giới tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về quản trị tài chính doanh nghiệp.
Các quan điểm này được chia thành hai trường phái tiêu biểu là trường phái cổ điển và trường phái hiện đại. Theo quan điểm của trường phái cổ điển thì chức năng chính của QTTC là tìm nguốn vốn. Điển hình của trường phái này là F.Paish, ông cho rằng : “QTTC doanh nghiệp là quá trình huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính của doanh nghiệp”. Theo trường phái hiện đại mà đại diện là Hoagland cho rằng : “QTTC doanh nghiệp không chỉ là vấn đề huy động vốn như thế nào mà còn là sử dụng vốn đó ra sao để đạt hiệu quả cao nhất”.
Như vậy, theo quan điểm này chức năng sử dụng vốn đã được bổ sung bên cạnh chức năng huy động vốn. (Trích dẫn : mục 1, trang 13, khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp, giáo trình quản trị tài chính doanh nghiệp, trường ĐH lao động xã hội, chủ biên : PGS. Dương Đức Lân) Còn theo mục 1.1, trang 15, khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp, giáo trình quản trị tài chính, trường ĐH Thương Mại, chủ biên : thì : “QTTC doanh nghiệp bao gồm tổng thể các hoạt động của nhà quản trị trong quá trình nghiên cứu, dự báo, phân tích, ra các quyết định tài chính và tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm thực hiện các mục tiêu đã được xác đinh” Như vậy, “QTTC doanh nghiệp là các hoạt động nhằm phối trí các dòng tiền tệ trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. QTTC bao gồm các hoạt động làm cho luồng tiền tệ của công ty phù hợp trực tiếp với các kế hoạch.” GVHD: Nguyễn Thị Liên Hương SVTH: Lê Viết Năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp 7 Khoa Tài chính - Ngân hàng 1.
Nội dung của quản trị tài sản lưu động 1. Đặc điểm tài sản lưu động TSLĐ bao gồm nhiều loại khác nhau, nhưng nhìn chung chúng có một số đặc điểm sau : - Trong quá trình sản xuất kinh doanh TSLĐ luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục. - Mỗi bộ phận TSLĐ có đặc điểm luân chuyển giá trị khác nhau. Bộ phận TSLĐ là hàng hóa, hoặc nguyên vật liệu thì luân chuyển giá trị toàn bộ một lần trong một chu kỳ kinh doanh.
Bộ phận TSLĐ là công cụ lao động thì luân chuyển dần dần từng bộ phận giá trị của chúng. - TSLĐ luân chuyển giá trị nhanh hơn TSCĐ. TSLĐ trong các doanh nghiệp có lĩnh vực, ngành nghề, nghiệp vụ sản xuất kinh doanh khác nhau thì đặc điểm luân chuyển giá trị cũng khác nhau Việc quản trị TSLĐ giúp nhà quản trị thây được tính hợp lý hoặc không hợp lý cảu các bộ phận tài sản cũng như cơ cấu vốn đầu tư của doanh nghiệp, từ đó có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp.2 Phân loại tài sản lưu động * Dựa vào các khâu trong quá trình sản suất kinh doanh TSLĐ được chia thành : - TSLĐ trong khâu dự trữ : bao gồm nguyên vật liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ lao động…. dự trữ để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể tiến hành được thường xuyên và liên tục - TSLĐ trong khâu sản xuất bao gồm sản phẩm dở dang, bán thành phẩm.
Trong doanh nghiệp thương mại thuần túy thì không có bộ phận TSLĐ ở khâu này. - TSLĐ trong khâu lưu thông bao gồm thành phẩm, tiền, các khoản thế chấp ký quỹ cược ngắn hạn, các khoản phải thu… * Dựa vào hình thái biểu hiện của tài sản thì TSLĐ của doanh nghiệp được chia thành: GVHD: Nguyễn Thị Liên Hương SVTH: Lê Viết Năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp 8 Khoa Tài chính - Ngân hàng - Vật tư, hàng hóa: Bao gồm nguyên nhiên vật liệu, công cụ, dụng cụ, bao bì, vật đóng gói, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm và hàng hóa đang được dự trữ ở các khâu và địa điemr của quá trình kinh doanh - Tiền: bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản vốn trong thanh toán. * Theo cơ chế quản lý TCDN hiện hành, TSLĐ bao gồm: - Tiền : tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. - Các khoản phải thu, bao gồm: phải thu từ khách hàng, nhà cung cấp, trong trường hợp ứng trước tiền hàng, từ nhà nước về thuế khầu trừ….
- Vật tư, hàng tồn kho : Hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, thành phẩm, hàng hóa tồn kho, hàng gửi bán…. - TSLĐ khác: tạm ứng, chi phí trả trước, tài sản thiếu chờ xử lý, các khoản cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn.3 Vai trò của tài sản lưu động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh Chúng ta có thể khẳng định tài sản lưu động có một vai trò quyết định đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên nó chỉ phát huy tác dụng khi các nhà quản lý tài chính biết quản lý một cách khoa học, sử dụng đúng hướng, đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả. Ngoài ra, sử dụng tài sản lưu động hợp lý cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc của các tư liệu sản xuất(tài sản lưu động) góp phần làm tốt công tác bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì vậy, việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động giữ vai trò trọng yếu trong công tác tài chính của doanh nghiệp. Quản trị tiền 1.1 Động cơ của việc giữ tiền : Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần giữ một lượng tiền nhất định bởi các lý do chính sau đây : - Một là, để thực hiện các giao dịch : Động cơ chủ yếu của nắm giữ tiền trong doanh nghiệp là để làm thông suốt các giao dịch kinh doanh. Tiền là tài sản có tính lỏng cao nhất. Từ tiền, doanh nghiệp có thể chuyển ngay sang hàng hóa khác.
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hương SVTH: Lê Viết Năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp 9 Khoa Tài chính - Ngân hàng Nếu doanh nghiệp không giữ tiền mà chỉ giữ các tài sản khác thì các chi phí giao dịch có thể rất cao, hơn nữa lại mất nhiều thời gian cho một giao dịch kinh doanh thông thường vì các tài sản khác có tính thanh khoản thấp hơn. Từ tài sản đang nắm giữ doanh nghiệp phải chuyển nó thành tiền, sau đó mới dùng tiền để mua hàng hóa mà doanh nghiệp cần. Động cơ này gọi là động cơ kinh doanh. - Hai là, để đáp ứng nhu cầu chỉ trả và thanh toán : Ngoài nhu cầu sử dụng tiền để mua tài sản, hàng ngày hàng giờ ở doanh nghiệp còn phải dùng tiền để thanh toán các món nợ, các khoản phải trả, phải nộp khác như : trả lương công nhân, nộp thuế nhà nước… Nếu không có tiền để thanh toán các khoản phải trả, phải nộp tất yếu cũng gây nên những khó khăn và bất lợi nhất định đối với doanh nghiệp.
- Ba là, để dự phòng và đầu cơ : Dòng tiền vào và ra của doanh nghiệp đôi khi không thể dự đoán trước được. Do vậy, doanh nghiệp cần phải giữ một lượng tiền nhất định để phục vụ cho các nhu cầu ngẫu nhiên, không xác định được trước. Điều đó giúp doanh nghiệp duy trì được khả năng thanh toán ổn định, tình hình tài chính của doanh nghiệp ở mọi thời điểm. Ngoài ra, tiền còn được dùng để thỏa mãn lợi thế mua sắm của doanh nghiệp khi có cơ hội kinh doanh.
Nguồn tiền này được gọi là ngân quỹ đầu cơ. Ưu điểm của việc nắm giữ tiền : - Thanh toán các nhanh các nghĩa vụ đối với chủ nợ. - Có nhiều cơ hội kinh doanh - Có cơ hội nhận được chiết khấu. - Đáp ứng được nhu cầu vốn lưu động thay đổi theo mùa.2 Nội dung quản trị tiền : a.
Tăng tốc độ thu hồi tiền : - Mục đích : + Giúp công ty ổn định tình hình tài chính, tình hình thanh toán.