Chương 1: Tổng quan về quản trị tài chính đơn vị sự nghiệp có thu. Chương 2: Thực trạng quản trị tài chính đơn vị sự nghiệp có thu tại Công ty Thoát nước và xử lý nước thải Đà Nẵng. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tài chính tại Công ty Thoát nước và xử lý nước thải Đà Nẵng. CHUONG 1 TONG QUAN VE QUAN TRI TAI CHINH DOI VOI DON VI SỰ NGHIỆP CÓ THU 1.
KHAI QUAT CHUNG VE QUAN TRI TÀI CHÍNH 1. Một số vấn đề cơ bản về quản trị tài chính - Khái niệm về quản trị: Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của thị trường [1 I]. - Khái niệm về quản trị tài chính: Quản trị tài chính là các hoạt động nhằm phối trí các dòng tiền trong công ty nhằm đạt được mục tiêu của công ty [14]. Quản trị tài chính là một trong các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp.
Chức năng quản trị tài chính có mối liên hệ mật thiết với các chức năng khác trong doanh nghiệp như: Chức năng quản trị sản xuất, chức năng quản trị marketing, chức năng quản trị nguồn nhân lực. Mục tiêu quản trị tài chính Mục tiêu của quản trị tài chính là tối đa hóa giá trị cho những người chủ hiện tại của công ty. Chức năng quản trị tài chính Quản trị tài chính bao gồm các hoạt động liên quan đến đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản theo mục tiêu chung của công ty. Vì vậy, chức năng quyết định của quản trị tài chính có thể chia thành ba nhóm: quyết định đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản.
Quyết định đầu tư: là quyết định quan trọng nhất trong ba quyết định căn bản của quản trị tài chính. Thông qua bảng tổng kết tài sản của công ty, nợ và vốn chủ sở hữu được đặt ở bên phần nguồn vốn còn tài sản thì được đặt ở bên phần tài sản. Nhà quản trị tài chính cần phải xác định con số xuất hiện ở dòng cuối cùng bên phần tài sản của bảng tổng kết tài sản, đó là tông giá trị tài sản hay chính là quy mô của công ty. Trong đó, họ cũng còn phải quyết định tổ hợp của các tài sản.
Chẳng hạn, nên dành bao nhiêu cho tiền mặt, khoản phải thu và bao nhiêu cho tồn kho, bởi vì, mỗi tài sản có đặc trưng riêng, có tốc độ chuyển hóa thành tiền và khả năng sinh lời riêng. Do vậy, để duy trì một cơ cấu tài sản hợp lý, họ không chỉ ra các quyết định đầu tư mà còn ra các quyết định cắt giảm, loại bỏ hay thay thế đối với các tài sản không còn giá trị kinh tế. Tóm lại, để thực hiện mục tiêu làm tăng giá trị của công ty, các nhà quản trị tài chính phải ra các quyết định nhằm xác định quy mô tăng trưởng của công ty và đảm bảo một cơ cấu tài sản thích hợp bằng các hoạt động đầu tư, cắt giảm. Các quyết định này tác động trực tiếp lên khả năng sinh lợi và rủi ro của công ty.
Quyết định tài trợ: Để tài trợ cho tài sản, các nhà quản trị tài chính phải tìm kiếm các nguồn vốn thích hợp thông qua quyết định tài trợ. Các nguồn vốn để tài trợ cho tài sản bao. gồm các khoản nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn chủ sở hữu,. Mỗi loại nguồn vốn có những đặc tính về nghĩa vụ khác nhau xét trên hai phương diện chỉ phí và yêu cầu trả nợ.
Như vậy, nhà quản trị phải quan tâm đến việc xây dựng phần nguồn vốn của bảng tổng kết tài sản. Mỗi công ty có tổ hợp tài trợ khác nhau. Một số công ty duy trì tương đối nhiều nợ trong khi các công ty khác thì thậm chí không có một khoản nợ nào. Như vậy, các nhà quản trị tài chính phải đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến tài trợ.
Họ có thể nghiên cứu xem còn hình thức tài trợ nào khác không? Nếu có thì tại sao? Và trên một phương diện nào đó, một tô hợp tài trợ có thé được xem là tối ưu hay không? Khi quyết định về tổ hợp tài trợ, nhà quản trị tài chính còn phải xác định phương án tốt nhất để thu hút nguồn vốn cần thiết. Hơn nữa, họ cũng cần phải hiểu được các cơ chế để nhận được các khoản vay ngắn hạn, ký kết các hợp đồng vay dài hạn hay thương lượng đề bán cổ phiếu, trái phiếu Quyết định quản trị tài sản: Một khi đã mua tài sản và đã có các nguồn tài trợ phù hợp thì các tài sản này còn phải được quản lý một cách hiệu quả. Nhiều tác giả, nhà nghiên cứu xem quyết định này thuộc về quyết định đầu tư, nghĩa là chỉ có hai quyết định trong quản trị tài chính là quyết định đầu tư và quyết định tài trợ. Do vậy, nhà quản trị tài chính sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc quản trị các tài sản lưu động so với tài sản cố định trong khi phần lớn trách nhiệm về quản lý các tài sản cố định thuộc về các nhà quản trị sản xuất, những người vận hành trực tiếp tài sản cố định.
Nội dung quản trị tài chính Thứ nhất: Tham gia xây dựng, đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh. Việc xây dựng, đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận trong công ty cùng phối hợp thực hiện. Trên góc độ tài chính, điều chủ yếu cần phải xem xét là hiệu quả tài chính của dự án, tức là xem xét cân nhắc giữa chỉ phí bỏ ra, những rủi ro có thể xảy ra và khả năng thu lợi nhuận khi thực hiện dự án. Việc phân tích đánh giá nhằm lựa chọn được các dự án tối ưu, các dự án có tỷ lệ sinh lời cao là nhiệm vụ của nhà quản trị tài chính.
Trên cơ sở tham gia xây dựng, đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư, các nhà quản trị tài chính cũng cần tìm ra định hướng phát triển doanh nghiệp hiện tại cũng như trong tương lai. Thứ hai: Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn. Bước vào hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, quản trị tài chính cần phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của công ty ở trong kỳ.
Vốn hoạt động của công ty gồm có vốn dài hạn và vốn ngắn han dé tai tro hình thành tài sản ngắn hạn và dài hạn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư. Điều quan trọng là nhà quản trị tài chính phải tổ chức huy động nguồn vốn đảm bảo kịp thời, đầy đủ cho hoạt động của công ty. Để đi đến việc quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp nhà quản trị tài chính cần xem xét, cân nhắc trên nhiều mặt như kết cấu nguồn vốn, chỉ phí sử dụng vốn từng thành phần vốn, những điểm lợi và bất lợi của từng hình thức huy động vốn, trên có sở đó đưa ra quyết định huy động một cơ câu vốn tối ưu, có chỉ phí sử dụng vốn là thấp nhất. Thứ ba: Tổ chức sử dụng tốt số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Quản trị tài chính phải tìm ra các biện pháp góp phần huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, giải phóng các khoản vốn còn bịứ đọng. Theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thu hồi tiền bán hàng và các khoản phải thu khác. Tìm các biện pháp lập lại sự cân bằng giữa thu và chỉ bằng tiền để đảm bảo cho công ty luôn có khả năng thanh toán. Thứ bốn: Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ.
Thực hiện việc phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế cũng như trích lập và sử dụng tốt các quỹ của công ty sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển công ty và cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên. Lợi nhuận là mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh, là một chỉ tiêu mà công ty phải đặc biệt quan tâm vì nó có liên quan đến sự tồn tại, phát triển mở rộng của công ty. Không thể nói công ty hoạt động kinh doanh tốt, hiệu quả cao khi lợi nhuận của công ty giảm qua các kỳ sau khi loại trừ các nhân tố ảnh hưởng khách quan làm giảm lợi nhuận của công ty. Thứ năm: Đảm bảo kiểm tra, kiểm soát thường xuyên đối với tình hình hoạt động và thực hiện tốt hoạt động phân tích tài chính của công ty.
Thông qua tình hình thu chỉ tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạt động của công ty. Mặt khác, định kỳ cần tiễn hành phân tích tình hình tài chính thông qua hệ thống chỉ số tài chính trên cơ sở đó cho phép nhà quản trị đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu về tình hình tài chính cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn về mặt sản xuất kinh doanh và tài chính, xây dựng được một kế hoạch tài chính khoa học đảm bảo mọi tài sản và mọi nguồn tài chính của công ty được sử dụng một cách có hiệu quả nhất 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. Khái niệm Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động không sản xuất ra của cải vật chất, nhưng nó tác động trực tiếp đến lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, quyết định năng suất lao động của xã hội [13].
Ở nước ta có thể kể các hoạt động sự nghiệp như: sự nghiệp văn hóa thông tin, giáo dục đào tạo, y tế, môi trường, thé dục thé thao, nghiên cứu khoa học, nông lâm thủy lợi. Vai trò của hoạt động sự nghiệp Tác động mạnh mẽ và lâu dài tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định đến năng suất lao động xã hội: Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, nhưng nó tác động mạnh mẽ và lâu dài tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính chất quyết định đến năng suất lao động xã hội.