phần mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chƣơng: 4 - Chƣơng I: Cơ sở lý luận về công tác quản trị sản xuất trong doanh nghiệp. - Chƣơng II: Đặc điểm cơ bản của Công ty TNHH đầu tƣ sản xuất và thƣơng mại Nam Thái - Chƣơng III: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị sản xuất tại Công ty TNHH đầu tƣ sản xuất và thƣơng mại Nam Thái. 5 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm cơ bản.1 Quản trị sản xuất - Khái niệm sản xuất. Theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất đƣợc hiểu là quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ.
Có thể hình dung quá trình này theo sơ đồ sau: Đầu vào Chuyển hóa Đầu ra -Nguồn nhân lực; Tiền vốn - Sản phẩm dở dang - Làm biến đổi -Nguyên liệu, công nghệ - Thànhphẩm - Tăng thêm giá trị - Dịch vụ -Máy móc, thiết bị - Phụ phẩm -Khoa học và nghệ thuật quản trị.1 Quá trình sản xuất (Nguyễn Thị Minh An, 2006) Nhƣ vậy, thực chất sản xuất chính là quá trình chuyển hóa biến các yếu tố đầu vào thành các sản phẩm hay dịch vụ ở đầu ra. Yếu tố đầu vào gồm có nguồn nhân lực, nguyên liệu, công nghệ, máy móc, thiết bị, tiền vốn, khoa học và nghệ thuật quản trị. Đây là những yếu tố cần thiết cho bất kỳ quá trình sản xuất hoặc dịch vụ nào. Quá trình biến đổi là quá trình chế biến, chuyển hóa các yếu tố này nhằm đạt đƣợc mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định trƣớc.
Sự chuyển đổi này là hoạt động trọng tâm và phổ biến của hệ thống sản xuất. Kết quả hoạt động này của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc thiết kế, hoạchđịnh, tổ chức thực hiện và kiểm tra quá trình biến đổi. Đầu ra có thể là sản phẩm dở dang, thành phẩm, dịch vụ. Ngoài ra còn có các loại phụ phẩm khác có thể có lợi hoặc không có lợi cho hoạt 6 động sản xuất kinh doanh nhƣ phế phẩm, chất thải,… đôi khi đòi hỏi phải có chi phí rất lớn để xử lý, giải quyết chúng.
Sản xuất là một trong những phân hệ chính có ý nghĩa quyết định đến việc tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho xã hội. Quản lý hệ thống sản xuất sản phẩm, dịch vụ là chức năng, nhiệm vụ cơ bản của từng doanh nghiệp. Hình thành, phát triển và tổ chức điều hành tốt hoạt động sản xuất là cơ sở và yêu cầu thiết yếu để mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trên thị trƣờng. Nhƣ vậy Quản trị sản xuất chính là quá trình thiết kế, hoạch định, tổ chức điều hành và kiểm tra theo dõi hệ thống sản xuất nhằm thực hiện những mục tiêu sản xuất đã đề ra.
Hay nói cách khác, quản trị sản xuất là tổng hợp các hoạt động xây dựng hệ thống sản xuất và quản trị quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào tạo thành các sản phẩm, dịch vụ ở đầu ra theo yêu cầu của khách hàng nhằm thực hiện các mục tiêu đã xác định. Cũng giống nhƣ các phân hệ khác, hệ thống sản xuất gồm nhiều yếu tố cấu thành có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với nhau. Ta có sơ đồ hệ thống sản xuất nhƣ sau: Biến đổi ngẫu nhiên Đầu ra Đầu vào Thông tin phản hồi Thông tin phản hồi Kiểm tra Sơ đồ 1. Sơ đồ hệ thống sản xuất (Nguyễn Thị Minh An, 2006) 7 Yếu tố trung tâm của quản lý sản xuất là quá trình biến đổi.
Đó là quá trình chế biến, chuyển hóa các yếu tố đầu vào hình thành hàng hóa hoặc dịch vụ mong muốn, đáp ứng nhu cầu của xã hội.Các đột biến ngẫu nhiên có thể làm rối loạn hoạt động của toàn bộ hệ thống sản xuất dẫn đến không thực hiện đƣợc những mục tiêu dự kiến nhƣ ban đầu nhƣ thiên tai, hạn hán, lũ lụt, hỏa hoạn,….Nhiệm vụ của quản trị sản xuất là thiết kế và tổ chức hệ thống sản xuất nhằm biến đổi đầu vào thành các yếu tố đầu ra sau mỗi quá trình biến đổi, nhƣng với một lƣợng lớn hơn số lƣợng đầu tƣ ban đầu. Giá trị gia tăng là nguồn gốc của sự tăng của cải và mức sống của toàn xã hội; tạo ra nguồn thu nhập cho tất cả các đối tƣợng có tham gia đóng góp vào hoạt động của doanh nghiệp nhƣ những ngƣời lao động, chủ sở hữu, cán bộ quản lý và là nguồn tái đầu tƣ sản xuất mở rộng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Vai trò, mục tiêu của quản trị sản xuất.1 Vai trò của quản trị sản xuất. Doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất bao gồm ba phân hệ cơ bản là quản trị tài chính, quản trị sản xuất và quản trị Marketing.
Trong các hoạt động trên, sản xuất đƣợc coi là khâu quyết định tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ và giá trị gia tăng. Chỉ có hoạt động sản xuất hay dịch vụ mới là nguồn gốc của mọi sản phẩm và dịch vụ đƣợc tạo ra trong doanh nghiệp. Sự phát triển sản xuất là cơ sở làm tăng giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, tăng trƣởng kinh tế cho nền kinh tế quốc dân, tạo cơ sở vật chất thúc đẩy xã hội phát triển. Quá trình sản xuất đƣợc quản lý tốt góp phần tiết kiệm đƣợc các nguồn lực cần thiết trong sản xuất, giảm giá thành, tăng năng suất và hiệu quả của doanh nghiệp nói chung.
Hoàn thiện quản trị sản xuất tạo tiềm năng to lớn cho việc nâng cao năng suất, chất lƣợng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Các chức năng quản trị đƣợc hình thành nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định và có quan hệ chặt chẽ với nhau. Quản trị sản xuất có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ với các chức năng chính nhƣ quản trị tài chính, quản trị marketing và với các chức năng hỗ trợ khác trong doanh nghiệp. 8 Sự thống nhất, phối hợp cùng phát triển dựa trên cơ sở chung là thực hiện mục tiêu tổng quát của doanh nghiệp.
Các phân hệ trong hệ thống doanh nghiệp đƣợc hình thành và tổ chức các hoạt động sao cho đảm bảo thực hiện tốt nhất mục tiêu tổng quát của toàn hệ thống đã đề ra. Marketing cung cấp thông tin về thị trƣờng cho hoạch định sản xuất và tác nghiệp, tạo điều kiện đáp ứng tốt nhất nhu cầu trên thị trƣờng với chi phí thấp nhất. Sự phối hợp giữa quản trị sản xuất và marketing sẽ tạo ra hiệu quả cao trong quá trình hoạt động, giảm lãng phí về nguồn lực và thời gian. Mục tiêu của quản trị sản xuất Sản xuất là một trong những chức năng chính của doanh nghiệp, cho nên quản trị sản xuất bị chi phối bởi mục đích của doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh mục đích là lợi nhuận, đối với doanh nghiệp công ích mục đích là phục vụ. Có thể hình dung mục tiêu của quản trị sản xuất thông qua sơ đồ sau: Môi trƣờng kinh doanh Tính linh hoạt Chi phí Thời gian Sơ đồ 1. Mục tiêu của quản trị sản xuất (Nguyễn Ngọc Duy, 2011) Quản trị sản xuất với tƣ cách là tổ chức quản lý sử dụng các yếu tố đầu vào và cung cấp đầu ra phục vụ nhu cầu của thị trƣờng, mục tiêu tổng quát đặt ra là đảm bảo thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng trên cơ sở sử dụng hiệu quả nhất các yếu tố sản xuất. Nhằm thực hiện mục tiêu này, quản trị sản xuất có các mục tiêu cụ thể: Đảm bảo chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ theo đúng yêu cầu khách hàng; Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất để 9 tạo ra một đơn vị đầu ra; Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ; Xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao dƣới những ảnh hƣởng của môi trƣờng kinh doanh.
Nội dung của quản trị sản xuất. Quản trị sản xuất chính là quá trình thiết lập, hoạch định, tổ chức và kiểm tra hệ thống sản xuất nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra. Nhƣ vậy, quản trị sản xuất có các chức năng chính đó là: chức năng hoạch định, chức năng tổ chức và chức năng kiểm tra, đánh giá. Chức năng hoạch định nghĩa là việc cần xác định trƣớc các mục tiêu và quyết định những cách tốt nhất để đạt đƣợc mục tiêu đó.
Chức năng tổ chức: đây là công việc liên quan đến sự phân bổ, sắp xếp nguồn nhân lực con ngƣời và các nguồn lực khác của tổ chức. Chức năng kiểm tra, đánh giá: trong quá trình thực hiện sản xuất nhà quản trị luôn cố gắng để đảm bảo rằng tổ chức đang đi đúng hƣớng, đúng mục tiêu đã đề ra. Nếu quá trình sản xuất trên thực tế đang có sự lệch lạc thì những nhà quản trị sẽ đƣa ra những điều chỉnh cần thiết để đảm bảo đạt đƣợc mục tiêu của doanh nghiệp. Và để thực hiện tốt các chức năng trên, nhà quản trị sản xuất cần thực hiện tốt những nội dung của quản trị sản xuất đó là: + Dự báo nhu cầu sản xuất.
+Hoạch định tổng hợp. + Quyết định về công nghệ, lựa chọn máy móc thiết bị. + Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu. +Bố trí mặt bằng sản xuất.
+ Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp. + Quản trị tồn kho. Dự báo nhu cầu sản xuất. Đây là nội dung quan trọng đầu tiên là xuất phát điểm của quản trị sản xuất.
Tìm hiểu nghiên cứu tình hình thị trƣờng dự báo nhu cầu sản xuất sản phẩm để xác định xem cần sản xuất sản phẩm gì, số lƣợng bao nhiêu, vào thời gian nào? Những đặc điểm kinh tế kĩ thuật cần có của sản phẩm là gì? Kết 10 quả dự báo cho ta thấy số lƣợng sản phẩm cần sản xuất trong từng thời kỳ trên cơ sở kế hoạch sản xuất sản phẩm. + Khái niệm dự báo: Dự báo là khoa học, là nghệ thuật dự đoán các sự việc xảy ra trong tƣơng lai. Đó có thể là cách lấy dữ liệu đã qua để làm kế hoạch cho tƣơng lai nhờ các mô hình toán kinh tế nào đó. Hoặc có thể là cách suy nghĩ chủ quan hay trực giác tiên đoán tƣơng lai hay là sự phối hợp hai cách trên.
Nhƣng để dự báo đƣợc chính xác hơn, ngƣời ta loại trừ những tính chủ quan của ngƣời dự báo. + Phân loại dự báo: Có nhiều cách phân loại dự báo nhƣng hiện nay ngƣời ta hay sử dụng nhất là cách phân loại theo thời gian.