lời mở đầu, hoạt động nhập khẩu hàng hóa cụ thể là máy móc thiết bị có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành y tế nước nhà trong điều kiện trình độ khoa học kỹ thuật, cơ khí, y học còn hạn chế. Nhập khẩu hàng hóa tạo ra nguồn cung bổ sung cho sự thiếu hụt máy móc thiết bị y tế trong nước và thay thế những sản phẩm trong nước không sản xuất được hoặc phải sản xuất với chi phí cao hơn so với chi phí mua từ nước ngoài. Thông qua nhập khẩu, nền sản xuất trong nước có được máy móc thiết bị hiện đại với trình độ khoa học và công nghệ cao từ đó tạo tiền đề thuận lợi cho sự phát triển của nền sản xuất trong tương lai. Bên cạnh đó nhập khẩu hàng hóa còn thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc cung cấp các nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho nước xuất khẩu cũng như góp phần định hướng sản phẩm, định hướng thị trường.
Chẳng hạn việc nhập khẩu một loại thiết bị là thế mạnh của một quốc gia thì qua đó nền sản xuất trong nước có thể định hướng được những loại nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng, vật tư cần thiết cho việc sản xuất thiết bị đó và xuất trở lại cho quốc gia đó. Tuy nhiên việc nhập khẩu hàng hóa được thực hiện bởi nhiều chủ thể, trên phạm vi lãnh thổ nhiều nước, do đó chịu sự tác động của nhiều nhân tố và hàm chứa nhiều rủi ro. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu tiếp cận hoạt động nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp qua ba giai đoạn: 7 i) Giai đoạn trước hợp đồng: gồm các khâu hỏi hàng, đàm phán, yêu cầu cung cấp giấy tờ pháp lý để xin cấp phép nhập khẩu. Trong giai đoạn này người nhập khẩu và người xuất khẩu sẽ thống nhất các vấn đề về thông tin mô tả hàng hóa (mặt hàng, ký hiệu – chủng loại, đặc tính kỹ thuật, hãng / nước sản xuất, năm sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, đặc tính kỹ thuật), về số lượng hàng hóa, giá hàng hóa, các loại giấy tờ phục vụ cho dự án và cho việc nhập khẩu (chứng nhận chất lượng, chứng nhận xuất xứ, thư ủy quyền, chứng chỉ lưu hành sản phẩm…) ii) Giai đoạn thực hiện hợp đồng: hai bên đàm phán các điều khoản thương mại khác, soạn thảo và ký kết hợp đồng, thực hiện thanh toán, theo dõi tiến độ giao hàng, thực hiện thủ tục xuất khẩu, vận chuyển hàng hóa, làm thủ tục nhập khẩu, vận chuyển nội địa bên phía người nhập khẩu về đến kho, nhập kho và kiểm tra số lượng và quy cách đóng gói hàng hóa.
iii) Giai đoạn sau hợp đồng: bên bán cung cấp vật tư, linh kiện, phụ kiện phục vụ cho bảo hành, bảo trì; thực hiện đổi trả hàng hóa không đạt chất lượng. Khái quát về rủi ro Theo từ điển tiếng Việt, rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến, hay theo từ điển Oxford, rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại. Theo cách nhìn của các nhà kinh tế học, rủi ro không hoàn toàn là một yếu tố xảy ra khách quan và không thể lường trước mà được xem như một trong những thành phần cấu thành nên hoạt động kinh doanh và hoàn toàn có thể nhận diện và đo lường được, hay nói cách khác là có thể kiểm soát và hạn chế được. Quan niệm về rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa Qua một số khái niệm về rủi ro nói chung, rủi ro trong hoạt động nhập khẩu hàng hóa có thể được hiểu là sự bất trắc, biến cố không mong đợi có thể xảy ra trong quá trình nhập khẩu hàng hóa, có thể tạo ra những tổn thất, mất mát, thiệt hại hoặc làm mất đi những cơ hội sinh lời, nhưng cũng có thể đưa đến những lợi ích, những cơ hội thuận lợi trong kinh doanh nhập khẩu.
8 Rủi ro nói chung và rủi ro trong nhập khẩu nói riêng có những đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, rủi ro có tính khách quan tồn tại độc lập với ý chí của con người. Bản thân doanh nghiệp hay chính phủ không thể điều khiển được rủi ro theo ý muốn chủ quan của mình, nhưng có thể nhân biết, dự đoán rủi ro bằng kinh nghiệm và tư duy. Thứ hai, rủi ro có tính biến đổi. Việc nhận biết và dự đoán rủi ro là có thể thực hiện nhưng không thể đạt được độ chính xác tuyệt đối về thời gian, không gian cũng như mức độ thiệt hại mà rủi ro có thể mang lại.
Thứ ba, rủi ro có tính xác suất. Việc dự đoán rủi ro chỉ cho biết khả năng xảy ra rủi ro đó là lớn hay nhỏ, nhưng không thể cho một kết quả chắc chắn là tuyệt đối sẽ xảy ra hay sẽ không xảy ra. Thứ tư, rủi ro có tính tương lai. Người ta chỉ nhận diện, đo lường và đề xuất biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro khi mà rủi ro chưa xảy ra.
Khi rủi ra đã xảy ra, nó trở thành một biến cố và người ta phải tìm cách để giảm thiểu tối đa và khắc phục phần nào những thiệt hại do nó gây ra. Thứ năm, rủi ro có tính lịch sử. Tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, những hình thức của rủi ro cũng luôn thay đổi và có tính riêng biệt đối với mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Chẳng hạn khoa học kỹ thuật phát triển đã cải thiện độ an toàn của các phương tiện tham gia vận tải hàng hóa, là giảm nguy cơ rủi ro do phương tiện vận tải, nhưng đồng thời sự biến đổi khí hậu theo hướng cực đoan lại tiềm ẩn nhiều hình thức thiên tai, tăng nguy cơ rủi ro do hiện tượng thiên nhiên khách quan.
Ngoài những đặc điểm chung, rủi ro nhập khẩu hàng hóa có những đặc điểm riêng: Thứ nhất, hoạt động nhập khẩu hàng hóa được thực hiện giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau do đó doanh nghiệp phải chịu rủi ro kép: từ môi trường 9 kinh doanh trong nước và môi trường kinh doanh quốc tế, như vậy xác suất xảy ra rủi ro cao hơn so với doanh nghiệp hoạt động trong nước. Thứ hai, hoạt động nhập khẩu hàng hóa chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các vấn đề kinh tế khu vực và thế giới như khủng hoảng, suy thoái, mức độ cạnh tranh cũng cao hơn trong nước do đó mức độ ảnh hưởng của rủi ro có thể lớn hơn rất nhiều so với rủi ro mà các doanh nghiệp hoạt động trong nước phải đối mặt. Thứ ba, sự đa dạng về quốc tịch, ngôn ngữ, văn hóa, tập quán, đồng tiền, hình thức thanh toán, hình thức vận chuyển…đã tạo nên một môi trường kinh doanh hàng hóa quốc tế đa dạng và phức tạp, do đó tiềm ẩn những rủi ro cũng đa dạng và phức tạp. Phân loại rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa Có nhiều cách phân loại rủi ro nhập khẩu hàng hóa tùy thuộc vào tiêu chí phân loại.
Chẳng hạn căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro có thể chia thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan; căn cứ theo nguồn gốc rủi ro có thể chia ra rủi ro do môi trường thiên nhiên, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, môi trường bên trong của tổ chức, hay do nhận thức của cá nhân lãnh đạo hoặc người lao động; căn cứ theo đối tượng chịu rủi ro có thể chia ra rủi ro về tài sản hay về con người. Trong luận văn này người nghiên cứu sử dụng tiêu chí phân loại theo các giai đoạn thực hiện của hoạt động nhập khẩu hàng hóa, gồm có: 1. Giai đoạn trước hợp đồng: a) Rủi ro thông tin. Thông tin là nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp, thông tin mang lại cơ hội thành công cho doanh nghiệp nhưng cũng tạo ra nguy cơ đe dọa khi không đầy đủ và thiếu thông tin.
Các rủi ro thông tin phổ biến là: i) Thông tin sai về năng lực, tư cách pháp nhân của đối tác; 10 ii) Thông tin nội bộ sai lệnh dẫn đến sự thiếu phối hợp trong tổ chức hoạt động kinh doanh, làm phát sinh chi phí, giao hàng chậm, không thực hiện được các cam kết trong quan hệ với khách hàng và đối tác. b) Rủi ro về hàng hóa: giá cả, số lượng, mô tả hàng hóa Giá hàng hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố và có thể biến động lên xuống, đặc biệt là trong nền kinh tế hiện nay thì sự biến động càng thường xuyên hơn và bất thường hơn. Giá phụ thuộc vào nguồn hàng, phụ thuộc vào năng suất, sản lượng và mức độ cung ứng của ngành hàng này, sản phẩm này trên thị trường. Nếu cung không đủ cầu thì tất yếu giá cả sẽ tăng lên, còn cung vượt quá cầu thì giá sẽ giảm xuống.
Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, việc giá biến động là một trong những rủi ro dễ gặp phải và gây ra những tác động vô cùng xấu. Khi hỏi hàng, người xuất khẩu chào một mức giá nhưng khi ký hợp đồng mua và thanh toán, giá có thể thay đổi. Giá biến động giảm sẽ có lợi cho người nhập khẩu, nhưng thực tế đa số trường hợp giá sẽ biến động theo chiều hướng tăng. Rủi ro về số lượng xảy ra khi nhà sản xuất không đáp ứng được số lượng hàng hóa mà người mua đặt hàng.
Trường hợp nhập khẩu trực tiếp từ nhà sản xuất, nếu không đủ số lượng hàng thì người mua phải đổi sang loại hàng hóa thay thế. Trường hợp nhập khẩu từ trung gian phân phối, nếu không đủ số lượng hàng thì người mua phải mua thu gom hàng từ các trung gian khác hoặc mua lại hàng tồn kho trên thị trường. Trong các trường hợp đó người mua hàng – nhập khẩu đều là người gánh chịu nhiều thiệt hại: về lợi nhuận, về uy tín đối với khách hàng cuối cùng. Mô tả hàng hóa gồm các thông tin: ký hiệu, hãng sản xuất, nước sản xuất, năm sản xuất của hàng hóa.
Rủi ro xảy ra khi có sai khác một hay nhiều trong số các thông tin trên của sản phẩm giữa yêu cầu của người sử dụng và khả năng cung cấp của người sản xuất. Trong hoạt động đấu thầu dự án, sai sót này thường do hồ sơ mời thầu được xây dựng không đúng với sản phẩm thực tế. Đây là lỗi thường gặp do đơn vị tư vấn thiếu kiến thức về sản phẩm, hoặc lỗi 11 trong quá trình soạn thảo văn bản, hoặc do người sử dụng không hiểu đúng về thông tin sản phẩm nhưng vẫn đề xuất đưa vào hồ sơ mời thầu và được chủ đầu tư phê duyệt.