CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRÁI PHIẾU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động kinh doanh trái phiếu tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm trái phiếu Hiện nay, trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng hay lĩnh vực thị trường chứng khoán có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, các văn bản quy phạm pháp luật đã đề cập đến một số khái niệm khác nhau có liên quan đến lĩnh vực trái phiếu bao gồm: khái niệm “chứng khoán” (Securities), khái niệm “chứng khoán nợ” (Debt securities), khái niệm “trái phiếu” (Bond). Nhìn chung các khái niệm này thường được dùng không thống nhất, dễ gây hiểu lầm cho người đọc.
Do đó, việc phân tích nội dung các khái niệm trên là cần thiết, đồng thời sẽ góp phần làm rõ hơn về khái niệm trái phiếu. Cụ thể: Về khái niệm “Chứng khoán” và “Chứng khoán Nợ” Theo khoản 3, điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng Khoán năm 2010: Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của chủ thể phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định. Mặt khác, theo Giáo trình thị trường chứng khoán (2002) của Trường đại học Kinh tế Quốc dân đã đề cập đến các nội dung: Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư (tư bản ban đầu); chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời hạn nào đó.
Theo tính chất của chứng khoán, chứng khoán được phân thành: Chứng khoán Vốn; Chứng khoán Nợ; Các chứng khoán phái sinh. 13 Chứng khoán Nợ, điển hình là trái phiếu, tín phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người đi vay) phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc và lãi trong những khoảng thời gian cụ thể. Xét trong phạm vi lĩnh vực hạch toán kế toán ngân hàng, chẳng hạn văn bản số 7459/NHNN-KTTC ngày 30/08/2006 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành đã quy định tại Khoản 1 Mục B (Giải thích từ ngữ) như sau: Chứng khoán Nợ là loại chứng khoán mà bên phát hành phải thực hiện những cam kết mang tính ràng buộc đối với người nắm giữ chứng khoán theo những điều kiện cụ thể về thời hạn thanh toán, số tiền gốc, lãi suất (trái phiếu, kỳ phiếu. Như vậy, qua các định nghĩa trên có thể hiểu : Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của chủ thể phát hành.
Thuật ngữ “Chứng khoán Nợ” có ý nghĩa hẹp hơn thuật ngữ “Chứng khoán” do chỉ đề cập đến nội dung xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của chủ thể phát hành. Đồng thời trái phiếu là một loại chứng khoán Nợ. Về khái niệm “Trái phiếu” Theo Khoản 3, Điều 6 Luật Chứng khoán ban hành năm 2006: Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của chủ thể phát hành. Theo giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán (2013) của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản vay ban đầu khi nó đáo hạn.
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về trái phiếu. Tuy nhiên, nhìn chung nó thường được đề cập đến như là sự thể hiện cam kết của người phát hành sẽ thanh toán một số tiền xác định vào một ngày xác định trong tương lai với một mức lãi suất xác định cho người chủ sở hữu trái phiếu. Thị trường trái phiếu là thị trường phát hành và giao dịch các loại trái phiếu của Chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Trái phiếu 14 sẽ được phát hành lần đầu trên thị trường sơ cấp qua nhiều phương thức khác nhau như bảo lãnh phát hành, đấu thầu v.
Sau đó, các trái phiếu này sẽ tiến hành giao dịch trên thị trường thứ cấp. Thành viên tham gia trên thị trường trái phiếu bao gồm chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, các tổ chức trung gian tài chính. Trong các chủ thể tham gia trên thị trường trái phiếu, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là chủ thể phát hành trái phiếu nhằm huy động vốn phục vụ cho hoạt động của mình, và đặc biệt vừa là chủ thể đầu tư trái phiếu hoặc trung gian tài chính nhằm tìm kiếm lợi nhuận, đảm bảo thanh khoản và nâng cao thương hiệu của mình trên thị trường. Thuật ngữ “Đầu tư” (Investing) và “Kinh doanh” (Trading) xuất hiện khá nhiều trong các tài liệu trong nước và nước ngoài.
Trong lĩnh vực tài chính, hai thuật ngữ này đều nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường tài chính, nhưng theo các cách thức khác nhau. Cụ thể, hoạt động đầu tư thường chủ yếu gắn liền với việc mua và nắm giữ các công cụ đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ hoặc các công cụ đầu tư khác trong khoảng thời gian dài (có thể vài năm hoặc dài hơn) nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở hưởng lãi (trái tức, cổ tức v. Còn hoạt động kinh doanh thì liên quan đến việc thường xuyên mua và bán cổ phiếu, hàng hóa, ngoại tệ hoặc các công cụ tài chính khác trong khoảng thời gian ngắn nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch giá. Đối với khái niệm “hoạt động kinh doanh trái phiếu của NHTM” cho đến nay mặc dù đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến nhưng nhìn chung khái niệm này vẫn còn chưa có sự thống nhất và thể hiện rõ ràng.
Ở các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, một số khái niệm liên quan được sử dụng như khái niệm “hoạt động đầu tư chứng khoán”, hoặc khái niệm “đầu tư vào chứng khoán”, hoặc khái niệm “kinh doanh chứng khoán của NHTM” v. Cụ thể: Trong sách chuyên khảo “Bank Management and Financial Services” của Peter Rose (9h Edition, 2013) đã đề cập đến “hoạt động đầu tư chứng khoán” trong ngân hàng chủ yếu đầu tư vào các loại chứng khoán sau: tín phiếu và trái phiếu Chính phủ, tín phiếu và trái phiếu công ty, các loại chứng khoán nợ khác và một số cổ phiếu được 15 pháp luật cho phép. Việc nắm giữ các loại chứng khoán này có vai trò quan trọng đối với danh mục tài sản của ngân hàng như đem lại thu nhập, nâng cao tính thanh khoản, tăng cường mức độ đa dạng hóa, hạn chế rủi ro và ít nhất một phần thu nhập của ngân hàng sẽ không phải chịu thuế. Trong sách chuyên khảo “Quản trị ngân hàng thương mại” của GS.TS Lê Văn Tư (2005) cũng đề cập đến nội dung “ đầu tư vào chứng khoán” là loại hình phổ biến nhất trong tài sản có của các NHTM tại các nước đã phát triển.
Ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh khoản, đa dạng hóa các dịch vụ kinh doanh nhằm phân tán rủi ro. Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến khái niệm “kinh doanh chứng khoán của NHTM” là việc mua đi bán lại các loại chứng khoán bằng vốn của mình bỏ ra. Đặc điểm của hình thức kinh doanh này là ngân hàng luôn luôn mua chứng khoán của khách hàng bằng tiền của mình và bán cho khách hàng từ dự trữ của mình. Đồng thời, việc thực hiện các nghiệp vụ này đối với khách hàng không vì mục đích ăn hoa hồng, mà là lợi nhuận chênh lệch giữa thị giá mua và thị giá bán.
Nghĩa là ngân hàng sẽ tìm cách mua các chứng khoán với giá thấp nhất, bán chúng với giá cao nhất. Trong lĩnh vực hạch toán kế toán ngân hàng, ví dụ như trong sách chuyên khảo “Kế toán ngân hàng” (2007) của đồng chủ biên TS Nguyễn Thị Thanh Hương và NGƯT. Vũ Thiện Thập, đã đề cập đến các nội dung liên quan đến “nghiệp vụ đầu tư chứng khoán của TCTD” và “nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của TCTD”. Cụ thể, TCTD mua, bán chứng khoán nhằm mục đích sinh lời thông qua 02 (hai) kênh: qua chênh lệch giá và qua lãi nắm giữ giấy tờ có giá.
Hai mục tiêu trên của TCTD có ảnh hưởng tới công tác kế toán các hoạt động này. Ngoài ra, các tác giả cũng đã đề cập đến sự phân biệt giữa 02 (hai) nghiệp vụ này thông qua hệ thống các tài khoản kế toán khác nhau. Cụ thể: + Để phản ánh nghiệp vụ đầu tư chứng khoán của TCTD, trong hệ thống tài khoản kế toán của các TCTD quy định các tài khoản cấp I là 15 – Chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán, và 16 – Chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn. 16 + Để phản ánh nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của TCTD, kế toán sử dụng các tài khoản cấp I số 14 – Chứng khoán kinh doanh.
Tuy nhiên, tại khoản 19, điều 6 Luật Chứng Khoán ban hành năm 2006 giải thích về khái niệm “kinh doanh chứng khoán” như sau: Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. Như vậy, theo quy định này khái niệm “kinh doanh chứng khoán” là tương đối rộng, không chỉ bao gồm việc mua, bán chứng khoán mà còn thực hiện các nghiệp vụ khác về dịch vụ như bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư, lưu ký v. nhằm thu lợi nhuận. Nhìn chung, còn nhiều các công trình nghiên cứu hay các quan điểm khác đã phản ánh các nội dung liên quan đến hoạt động kinh doanh trái phiếu, tuy nhiên chưa có nội dung nào đã đề cập cụ thể phản ánh về khái niệm “hoạt động kinh doanh trái phiếu của NHTM” là gì.