CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Thomas P. Fitch định nghĩa “RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ”. (Dictionary of banking terms, Barron’s Education Series, Inc 1997) Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2004) định nghĩa thì “RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận” Theo Peter S.Rose (2004) cho rằng một số tài sản của ngân hàng điển hình như các khoản nợ có khả năng suy giảm về giá trị và dần mất đi bản chất giá trị thì được gọi là RRTD.Volker, cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”. Vậy rủi ro là một phần không thể tránh được trong hoạt động tín dụng của ngân hàng nó ám chỉ khả năng xảy ra biến cố bất thường với hậu quả thiệt hại mang lại kết quả không nằm trong dự tính của ngân hàng.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN nhận định rằng “RRTD là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh NH nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện được một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết với TCTD”. Tóm lại, RRTD được nhìn nhận dưới rất nhiều góc nhìn và quan điểm khác nhau, qua đó có thể đúc kết chung chung về cốt lõi của RRTD là khả năng diễn ra những tổn thất và gây ra hậu quả khó lường trước về mặt tài chính mà TCTD buộc phải gánh chịu lý do là vì KH vay vốn không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi hoặc hoàn trả không đúng thời hạn đã quy định.2 Phân loại rủi ro tín dụng RRTD Nguyên nhân Khả năng trả phát sinh nợ Rủi ro giao Rủi ro tác Rủi ro danh Rủi ro đọng dịch nghiệp mục vốn Rủi ro lựa Rủi ro mất khả RỦi ro nội tại chọn năng chi trả Rủi ro không giới Rủi ro bảo Rủi ro tập hạn ở hoạt động hiểm trung cho vay Rủi ro nghiệp vụ Sơ đồ 1.1 Phân loại RRTD 1.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh RRTD được chia thành Bắt nguồn từ những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng dẫn đến việc phát sinh rủi ro giao dịch có thể được phân loại thành những loại sau đây: Rủi ro lựa chọn (option risk) một khái niệm được sử dụng để chỉ các mối đe dọa hoặc không chắc chắn liên quan đến việc sử dụng các lựa chọn tài chính. Được phát sinh do biến đổi không chắc chắn của giá cả và thời gian trong việc thực hiện quyền chọn. Rủi ro bảo đảm (security risk) được sử dụng để mô tả mối đe dọa hoặc nguy cơ liên quan đến an ninh và an toàn của hệ thống, tổ chức hoặc cá nhân.
Xuất phát từ các lỗ hổng, sự yếu kém trong các biện pháp bảo mật, sự xâm nhập trái phép hoặc các hành vi giả mạo, gian lận, phá hoại. 12 Rủi ro nghiệp vụ (operational risk) được sử dụng để chỉ các mối đe dọa và liên quan đến các hoạt động liên quan đến các hoạt động và quy trình nghiệp vụ của một tổ chức hoặc doanh nghiệp. Có thể phát sinh từ sai sót, sự cố công nghệ, quy trình không hiệu quả, hành vi nhân viên không đúng quy định, hoặc các yếu tố ngoại vi như thay đổi pháp lý, môi trường kinh doanh tính không ổn định Rủi ro danh mục (Portfolio risk): là một loại hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong công tác quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk). Rủi ro nội tại (Intrinsic risk): Xuất phát từ những yếu tố, đặc điểm riêng mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế.
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. Rủi ro tập trung: Ngân hàng tập trung vốn quá nhiều vốn mang cho khách hàng doanh nghiệp, lĩnh vực kinh tế vay. Loại hình này có rủi ro rất cao. Rủi ro tác nghiệp gây nên những nguy cơ tiềm ẩn gây tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do nhân viên ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động của ngân hàng.2 Căn cứ vào khả năng trả nợ Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Trong quá trình thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoản thời gian trả nợ.
Tuy nhiên, đến thời gian quy ước ngân hàng vẫn chưa thu hồi được số vốn cho vay. Rủi ro do mất khả năng chi trả: Xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng trả nợ, ngân hàng phải thanh lý TSĐB của doanh nghiệp để thu nợ. Rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ… 1.3 Tác động của rủi ro tín dụng 1.1Tác động đến hoạt động của ngân hàng - Rủi ro trong hoạt động tín dụng có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của ngân hàng cũng như nó tác động rất mạnh mẽ tới các hoạt động của nền kinh tế. Đó là các tác động rất xấu, thể hiện ở các khía cạnh sau: 13 + Rủi ro làm suy giảm uy tín của ngân hàng: Rủi ro trong hoạt động tín dụng cũng là một tiêu chí để đanh giá hoạt động của Ngân hàng có hiệu quả hay không.
Khi Ngân hàng không kiểm soát được rủi ro tín dụng sẽ làm giảm uy tín và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của của ngân hàng. Đây là một vấn đề rất nguy hiểm khi khách hàng mất lòng tin ở Ngân hàng, họ sẽ không gửi tiền vào Ngân hàng, thậm chí họ có thể còn rút lại những khoản tiền đã gửi. Điều đó đã gây khó khăn cho việc huy động vốn, làm giảm quy mô hoạt động của Ngân hàng. NHTM gặp rủi ro cũng sẽ làm mất lòng tin đối với các ngân hàng đối tác, nên rất khó có thể nhận được những khoản tín dụng khi cần thiết.
+ Rủi ro làm cho khả năng thanh toán của ngân hàng giảm sút: Các khoản tín dụng có rủi ro khiến cho việc hoàn trả gặp khó khăn, trong lúc đó các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm của của dân cư vẫn phải thanh toán đúng kỳ hạn, trong lúc không huy động được nguồn vốn dồi dào do mất uy tín, cũng vì thế người rút tiền thấy tình trạng của ngân hàng như thế lại rút tiền càng tăng lên, kết quả là Ngân hàng gặp khó khăn trong khâu thanh toán. + Rủi ro đưa đến kết quả là lợi nhuận suy giảm: RRTD từ các khoản cấp tín dụng phát sinh sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả gốc và lãi của Ngân hàng. Ngân hàng sẽ bị thiệt hại về mặt tài chính khi không thu hồi được vốn và lãi của khoản vay. Trong trường hợp khách hàng tất toán được toàn bộ gốc và lãi vay cộng với phần lãi phạt do quá hạn thì cũng ảnh hưởng đến tình hình tài chính của Ngân hàng, do Ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro và mất đi những có hội đầu tư vào các dự án/phương án khả thi khác.
+ Rủi ro có thể dẫn tới phá sản: Ngân hàng gặp RRTD có thể làm giảm sút lòng tin đặc biệt là đối với những người gửi tiền. Họ lo sợ bị mất những khoản tiền đã gửi và sẽ đến rút tiền để tìm cơ hội đầu tư có lợi hơn ở một ngân hàng khác. Trường hợp nghiêm trọng xảy ra khi có quá nhiều người đến rút tiền về dẫn đến sự mất thanh khoản và trầm trọng hơn có thể dẫn đến phá sản của ngân hàng. Hậu quả của sự phá sản ngân hàng không chỉ bản thân Ngân hàng phải gánh chịu mà nó còn liên quan đến các ngân hàng đối tác.
Điều này sẽ tạo ra một phản 14 ứng dây chuyền gây ra sự phá sản hàng loạt của các ngân hàng khác ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế. Chính điều này gây ta những rối loạn về an ninh, chính trị, xã hội. kéo theo hàng loạt những hậu quả khác như: Thất nghiệp, lạm phát, tệ nạn xã hội nảy sinh. Đây là những bài học thấm thía có nguồn gốc từ những RRTD của NHTM.2 Tác động đến nền kinh tế xã hội NHTM là nơi thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng cũng như bơm tiền vào lưu thông, ổn định nền kinh tế.
Vì vậy khi rủi ro tín dụng xảy ra, không những chỉ ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng mà còn có thể ảnh hưởng dây chuyền đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, làm rối loạn cả nền kinh tế - xã hội, sụt giảm lòng tin của dân chúng và sự vững chắc và lành mạnh trong hệ thống tài chính ngân hàng. Thực tế xảy ra trong năm vừa qua với hàng loạt các Ngân hàng TMCP như: Á Châu, Ocean Bank, Maritime bank …là những minh chứng hữu hiệu, nếu không có sự trợ giúp của NHTW, toàn hệ thống NHTM có thể sụp đổ, ảnh hưởng đến các ngành kinh tế khác, gây rối loạn nền kinh tế… thiệt hại xảy ra vô cùng lớn. Ngoài ra, nếu RRTD xảy ra dẫn đến tình trạng xấu nhất là làm ngân hàng phá sản thì sẽ ảnh hưởng đến tình hình SXKD của các doanh nghiệp, không đáp ứng được các chi phí trả lương khiến đời sống công nhân gặp khó khăn, từ đó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp leo thang, gây mất ổn định nền kinh tế xã hội. Tóm lại, RRTD của một NHTM xảy ra ở mức độ khác nhau, nhẹ nhất thì ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ chồng chất làm cho ngân hàng bị lỗ và mất vốn.
Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho ngân hàng bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và HTNH nói riêng.