Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro quy trình xuất khẩu máy công cụ Chương 3: Thực trạng quản trị rủi ro quy trình xuất khẩu máy công cụ của công ty TNHH Osco International Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro quy trình xuất khẩu máy công cụ của công ty TNHH Osco International 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO QUY TRÌNH XUẤT KHẨU MÁY CÔNG CỤ 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về nguy cơ, tổn thất, rủi ro 2. Khái niệm về nguy cơ “Nguy cơ là một nguồn, một tình huống hoặc một hành động có tiềm năng gây ra tổn hại đối với con người như tổn thương hay tác hại sức khỏe hoặc kết hợp cả hai tổn hại trên” (Theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7301 – 1:1008).
Ropeik và Grey (2002), “nguy cơ được định nghĩa là xác suất mà việc phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ để lại một hậu quả xấu”. Như vậy, có thể hiểu nguy cơ là một tình huống, điều kiện hoặc yếu tố tiềm ẩn có khả năng gây ra tổn thất, thiệt hại hoặc hậu quả xấu trong tương lai. Khái niệm về tổn thất “Tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tài sản, về con người, tinh thần, sức khỏe và sự nghiệp của họ do những nguyên nhân từ các rủi ro gây ra” (PGS TS Doãn Kế Bôn, 2010, Quản trị tác nghiệp trong thương mại quốc tế, trang 336, NXB Chính trị Hành Chính). Trong các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, tài chính và quản lý, dựa vào khả năng đo lường có thể chia tổn thất thành hai loại là tổn thất vô hình và tổn thất hữu hình.
Tổn thất vô hình là những tổn thất không thể đo lường bằng tiền trực tiếp mà ảnh hưởng đến giá trị phi vật chất như tinh thần, sức khỏe, đe dọa sự nghiệp, ô nhiễm,. Tổn thất hữu hình là những mất mát có thể đo lường được bằng tiền, có thể thấy và cảm nhận được bằng các giác quan như hư hỏng, mất mát hay lãng phí. Đối với hoạt động thương mại quốc tế, người ta quan tâm nhiều hơn đến tổn thất hữu hình và coi đó là căn cứ để có các biện pháp khắc phục như sửa chữa, thay thế hoặc bồi thường. Tóm lại, tổn thất là trạng thái chỉ sự suy giảm hoặc mất mát giá trị của một sự vật, hiện tượng hay quá trình nào đó khiến trạng thái của sự vật, hiện tượng hay quá trình đó chuyển biến xấu đi.
Các biện pháp giảm thiểu tổn thất bao gồm phòng ngừa, khắc phục hoặc bồi thường. Khái niệm về rủi ro Khái niệm về rủi ro được đưa ra bởi nhiều ý kiến như: 6 Theo từ điển Oxford: “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại”. “Rủi ro là những sự kiện bất ngờ ngoài mong đợi của con người và gây những thiệt hại cho con người trong các hoạt động của mình. Mặc dù rủi ro là sự kiện khách quan, xảy ra ngoài ý muốn của con người nhưng con người có thể hoàn toàn kiểm soát được rủi ro ở những mức độ khác nhau, từ đó có các biện pháp hạn chế tối đa những tổn thất rủi ro mang đến” (PGS TS Doãn Kế Bôn, 2010, Quản trị tác nghiệp trong thương mại quốc tế, trang 336, NXB Chính trị Hành Chính).
Có thể thấy, rủi ro và tổn thất có điểm chung là đều gây ra những tác động tiêu cực, hậu quả không mong muốn. Nhưng điểm khác là rủi ro cho thấy sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai, còn tổn thất là trạng thái đã xảy ra, thấy được những hậu quả, thiệt hại mà nó gây ra. Như vậy, rủi ro là là những sự kiện bất ngờ xảy ra dẫn đến một tác động tiêu cực ảnh hưởng đến mục tiêu, hoạt động hoặc hệ quả của một quá trình. Tuy nhiên, rủi ro thường gắn liền với cơ hội tiềm ẩn mà nếu chấp nhận rủi ro và quản lý tốt có thể mang lại cơ hội tốt bứt phá.
Khái niệm về quản trị rủi ro Xuất phát từ những thiệt hại, tác động tiêu cực mà rủi ro gây ra đòi hỏi phản có các biện pháp để giảm thiểu hoặc phòng ngừa rủi ro một cách tối đa chính là thao tác quản trị. “Quản trị là hoạt động nhằm đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả bằng sự phối hợp các hoạt động của những người khác thông qua hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức trong một môi trường luôn thay đổi” (Giáo trình quản trị học, Trường đại học Thương Mại, NXB Hà Nội, 2013). “Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công” (Đoàn Thị Hồng Vân và ctg, 2013). “Quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích (bao gồm đo lường và đánh giá) rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khắc phục các hậu quả của rủi ro” (PGS TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình quản trị rủi ro, trang 28).
Như vậy, quản trị rủi ro là một quá trình quan trọng không thể thiếu trong hoạt động thương mại quốc tế, được hiểu như sau: “Quản trị rủi ro là quá trình hệ thống 7 nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát và phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra nhằm giảm tác động động tiêu cực của chúng”. Hoạt động quản trị đòi hỏi sự chủ động và lên kế hoạch toàn diện một cách liên tục nhằm khắc phục tối đa được tổn thất mà rủi ro gây ra. Khái niệm về quản trị rủi ro quy trình xuất khẩu hàng hóa Trước hết, “quy trình xuất khẩu hàng hóa là một chuỗi các bước và hoạt động liên tiếp cần thiết để chuyển hàng hóa từ một quốc gia sang một quốc gia khác để bán hoặc sử dụng”. Quy trình xuất khẩu được bắt đầu từ khi doanh nghiệp, tổ chức quyết định xuất khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài cho đến khi hàng hoá được giao đến tay người mua và hoàn tất các thủ tục thanh toán.
Trong quy trình xuất khẩu hàng hóa có rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan sẽ ảnh hưởng đến kết quả của quy trình và nảy sinh ra rủi ro trong quy trình xuất khẩu. Bản chất của xuất khẩu hàng hóa là một loại rủi ro mà doanh nghiệp, tổ chức phải chịu khi muốn mở rộng hiệu quả kinh doanh. Điều này cho thấy, quản trị rủi ro quy trình xuất khẩu hàng hóa là yêu cầu tất yếu của doanh nghiệp, tổ chức nếu muốn thành công trong hoạt động thương mại quốc tế. Như vậy, có thể hiểu rằng: “Quản trị rủi ro quy trình xuất khẩu hàng hóa là một quá trình hệ thống nhằm nhận dạng, phân tích, đo lường, kiểm soát và tài trợ giảm thiểu các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra trong suốt quá trình xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp, tổ chức, từ khâu sản xuất đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng”.
Một số lý thuyết về quản trị rủi ro quy trình xuất khẩu hàng hóa 2. Quy trình xuất khẩu hàng hóa Hoạt động xuất khẩu hàng hóa được thực hiện theo quy trình thứ tự bao gồm các bước sau: Bước 1: Đàm phán và ký kết hợp đồng ngoại thương Bước đầu tiên trong sơ đồ quy trình xuất khẩu hàng hóa là đàm phán để ký kết hợp đồng ngoại thương. Nội dung của đàm phán bao gồm các bên xác định nhu cầu, thỏa thuận các điều kiện, điều khoản về hàng hóa như tên hàng, số lượng, chất lượng, giá trị, phương thức thanh toán, phương thức giao hàng, giải quyết tranh chấp,. Quá trình đàm phán có thể diễn ra qua thư tín, điện thoại hoặc gặp mặt trực tiếp.
Các nội dung được đàm phán được soạn thành một hợp đồng nhằm ghi nhận thỏa thuận giữa các bên. Sau khi thống nhất về các thỏa thuận trong hợp đồng, các bên tiến hành ký kết hợp đồng ngoại thương để đi đến giao dịch hàng hóa theo đúng các thỏa thuận đã đưa ra. 8 Bước 2: Chuẩn bị hàng hóa Dựa trên thỏa thuận đã ký kết, nhà xuất khẩu tiến hành chuẩn bị hàng hóa theo đúng số lượng, chất lượng và quy cách đóng gói hàng hóa. Quá trình chuẩn bị này có thể là tổ chức, doanh nghiệp bắt đầu tiến hành sản xuất hàng hóa theo yêu cầu hoặc đã có sẵn hàng hóa để giao dịch.
Hàng hóa sau khi được chuẩn bị cần phải kiểm tra kỹ lưỡng và chuẩn chỉnh trước khi giao hàng cho đơn vị vận chuyển. Bước 3: Tiến hành làm thủ tục hải quan Tổ chức, doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu hàng hóa cần chuẩn bị hồ sơ xuất khẩu đầy đủ theo quy định pháp luật. Bộ hồ sơ xuất khẩu bao gồm: giấy phép kinh doanh, giấy phép xuất khẩu, hợp đồng thương mại, hóa đơn thương mại, phiếu đóng gói hàng hóa, vận đơn, chứng nhận chất lượng và chứng nhận xuất xứ (nếu có), các giấy chứng nhận khác theo yêu cầu của từng mặt hàng,. Sau khi hàng hóa được hoàn tất về chuẩn bị và hồ sơ được tiến hành làm thủ tục hải quan tại nước xuất khẩu.
Các cơ quan hải quan và cơ quan chuyên ngành sẽ tiến hành xác nhận thông tin hàng hóa xuất khẩu thông qua tờ khai hải quan và phân luồng hàng hóa để kiểm tra. - Nếu hàng hóa được phân vào luồng xanh sẽ được miễn kiểm tra hồ sơ và trực tiếp thông quan. - Nếu hàng hóa được phân vào luồng vàng sẽ được yêu cầu cung cấp đầy đủ các giấy tờ liên quan và điều tra chi tiết hồ sơ, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa. - Nếu hàng hóa được phân vào luồng đỏ sẽ được yêu cầu cung cấp đầy đủ các giấy tờ liên quan và điều tra chi tiết hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa.
Trường hợp vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật. Bước 4: Thông báo giao hàng và tập hợp bộ chứng từ Hàng hóa được thông quan sẽ được giao cho phương tiện vận chuyển theo các phương thức đường bộ, đường biển hoặc đường hàng không. Phương tiện vận chuyển sẽ chịu trách nhiệm giao hàng đến địa chỉ nhận theo đúng số lượng, chất lượng, quy cách đóng gói được giao cho người nhận. Sau khi hàng hóa được thông quan, người bán sẽ thông báo đã giao hàng cho phương tiện vận chuyển đến người mua.