Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu trang thiết bị y tế bằng đường biển 5 Chương 3: Phân tích thực trạng quy trình nhận hàng nhập khẩu trang thiết bị y tế bằng đường biển của Công ty TNHH Thiết bị y tế Thái Sơn Chương 4: Định hướng phát triển và một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu trang thiết bị y tế bằng đường biển của Công ty TNHH Thiết bị y tế Thái Sơn 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU TRANG THIẾT BỊ Y TẾ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 2. Tổng quan về hoạt động nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển 2. Các khái niệm cơ bản - Khái niệm nhập khẩu Theo Khoản 2, Điều 1 Luật Thương mại năm 2005, định nghĩa về nhập khẩu như sau: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” - Khái niệm vận tải biển Theo Wikipedia, vận tải biển là hình thức vận chuyển hàng hóa trong đó sử dụng phương tiện và cơ sở hạ tầng đường biển nhằm phục vụ cho mục đích vận chuyển.
Phương tiện thường dùng sẽ là các tàu thuyền, các phương tiện xếp, tháo dỡ hàng hóa như xe cần cẩu, xe đầu kéo… Trong đó, cơ sở hạ tầng để phục vụ cho vận tải biển là các cảng biển, cảng trung chuyển, bãi cảng… Kết hợp hai khái niệm trên, có thể hiểu nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển là hoạt động liên quan đến vận chuyển và làm các thủ tục để tiến hành nhập khẩu hàng hóa thông qua phương thức vận chuyển đường biển. Hoạt động này có thể bao gồm nhiều bước khác nhau tùy thuộc vào điều kiện giao hàng mà người mua và người bán đã thỏa thuận trong hợp đồng. Đặc điểm của hoạt động nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Một là, quá trình nhận hàng liên quan đến rất nhiều loại chứng từ khác nhau như vận đơn, hóa đơn thương mại, chứng nhận xuất xứ, chứng nhận chất lượng, giấy phép nhập khẩu… Ngoài ra, mỗi quốc gia sẽ có những quy định riêng về hải quan, thuế quan, kiểm dịch, khiến việc thực hiện các thủ tục càng phức tạp hơn. Hai là, thời gian vận chuyển dài trên biển có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn như hàng hóa bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển do tác động của thời tiết hay va đập mạnh; hàng hóa bị mất mát do trộm cắp hay thất lạc trong quá trình vận chuyển.
Ba là, hoạt động nhập khẩu hàng hóa bằng phương thức vận tải biển đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhiều bên với nhau. Trong đó, nhà cung cấp ngoài xuất khẩu hàng hóa còn có có nghĩa vụ cung cấp thông tin, chứng từ về hàng hóa cho cơ quan Hải 7 quan kiểm tra và cấp phép, sau đó hãng tàu sẽ vận chuyển hàng hóa từ cảng xuất khẩu đến cảng nhập khẩu và các nhân viên tại cảng sẽ thực hiện các thủ tục khi hàng tới. Vai trò của hoạt động nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Thứ nhất, hoạt động nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển giúp đảm bảo nguồn cung ổn định cho doanh nghiệp nhập khẩu. Việc đảm bảo nguồn cung hàng hóa là yếu tố quyết định đến sự ổn định trong quá trình sản xuất và vận hành của doanh nghiệp.
Nếu không có hoạt động nhập khẩu bằng đường biển, các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì sản lượng và chất lượng sản phẩm. Vận tải biển cho phép doanh nghiệp tiếp cận hàng hóa từ nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền sản xuất tiên tiến. Điều này giúp giảm rủi ro gián đoạn nguồn cung và tạo ra sự linh hoạt cho doanh nghiệp trong việc lên kế hoạch sản xuất. Thứ hai, nhập khẩu hàng hóa bằng đường biển giúp tối ưu hóa chi phí nhập khẩu, cụ thể giúp doanh nghiệp vận chuyển khối lượng lớn hàng hóa với chi phí thấp hơn so với các phương thức vận tải khác.
Khi nhập khẩu các lô hàng lớn, doanh nghiệp có thể tận dụng được tính kinh tế nhờ quy mô, từ đó giảm giá thành sản phẩm và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Thứ ba, nhập khẩu hàng hóa bằng đường biển còn mang lại cho doanh nghiệp khả năng linh hoạt trong việc quản lý hàng tồn kho và điều chỉnh kế hoạch sản xuất theo nhu cầu thị trường. Vận tải biển có thời gian giao hàng dài hơn các phương thức vận chuyển khác, tuy nhiên, nó lại cung cấp cho doanh nghiệp khả năng lập kế hoạch dài hạn. Doanh nghiệp có thể điều chỉnh khối lượng hàng nhập khẩu tùy thuộc vào nhu cầu thực tế, từ đó tối ưu hóa quản lý hàng tồn kho và duy trì sản xuất ổn định.
Điều này đặc biệt quan trọng trong các ngành có tính biến động lớn như bán lẻ, công nghiệp tiêu dùng hoặc y tế. Tổng quan về rủi ro 2. Khái niệm - Khái niệm rủi ro Alan H. Willent (1951) cho rằng: “Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất”.
Theo ông, rủi ro là một tình huống mà ở đó các điều xảy ra không được biết một cách chắc chắn. Tương tự, Viện nghiên cứu Quản trị dự án Hoa Kỳ đưa ra khái niệm: “Rủi ro là 8 một sự kiện hay điều kiện không chắc chắn mà nếu xảy ra sẽ có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến mục tiêu dự án.” Bên cạnh đó, trong Giáo trình Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, trang 334, PGS.TS Doãn Kế Bôn (2009) đã chỉ ra rằng: “Rủi ro là những sự kiện bất ngờ ngoài mong đợi của con người và gây ra những thiệt hại cho con người trong các hoạt động của mình. Mặc dù rủi ro là sự kiện khách quan, xảy ra ngoài ý muốn của con người, nhưng con người lại hoàn toàn có thể kiểm soát được rủi ro ở những mức độ khác nhau, từ đó có những biện pháp hạn chế tối đa những tổn thất rủi ro mang đến. Từ những khái niệm được đưa ra, có thể hiểu đơn giản, rủi ro là sự kiện hoặc biến cố có tính chất bất ngờ, không lường trước được và gây ra thiệt hại nhất định cho con người.
- Khái niệm quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển “Quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích (bao gồm cả đo lường và đánh giá) rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khắc phục các hậu quả của rủi ro”.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình Quản trị rủi ro, Trang 28) Như vậy, quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống với mục tiêu nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát và những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro. Từ đó, có thể suy ra, quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển là quá trình nhận dạng, phân tích (bao gồm cả đo lường và đánh giá) rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khắc phục các hậu quả của rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển. Phân loại rủi ro Có rất nhiều tiêu thức để phân loại rủi ro, trong phạm vi bài khóa luận này, tác giả chỉ đề cập tới cách thức phân loại rủi ro đó là theo nguồn gốc của rủi ro. Rủi ro có nguồn gốc từ môi trường vĩ mô - Rủi ro chính trị: là những rủi ro có thể xảy ra dưới tác động của các yếu tố chính trị.
Một môi trường chính trị bất ổn là nguyên nhân của những bạo loạn, đảo chính, sự thay đổi về luật pháp, chính sách điều hành đất nước, dẫn đến những khó khăn, tổn thất trong hoạt động của các doanh nghiệp. Sự bất ổn về chính trị có thể xảy ra trong phạm vi một quốc gia, cũng có thể mang tính quốc tế như bất ổn trong khu vực hay toàn cầu. 9 - Rủi ro kinh tế: là rủi ro gắn liền với sự biến động của các yếu tố kinh tế như: tình trạng của nền kinh tế thế giới và của các nền kinh tế quốc gia, hay đơn giản là tình trạng lạm phát, tỉ giá hối đoái, lãi suất tiền gửi, tình trạng thất nghiệp… Khi các yếu tố kinh tế thay đổi theo chiều hướng bất lợi thì sẽ tiềm ẩn rất nhiều biến cố rủi ro cho các doanh nghiệp. - Rủi ro pháp lí: là những rủi ro mà sự xuất hiện của chúng có nguyên nhân từ những yếu tố pháp luật.
Một doanh nghiệp tham gia vào thị trường quốc tế thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó bị điều chỉnh bởi các hệ thống luật pháp quốc gia khác nhau. - Rủi ro thiên nhiên: là những biến cố xảy ra trong môi trường tự nhiên như các hiện tượng thời tiết, khí hậu (bão lụt, mưa gió…) hay những biến đổi bất thường của thiên nhiên. Rủi ro có nguồn gốc từ môi trường vi mô - Rủi ro từ khách hàng: Về cơ bản, vai trò của khách hàng đối với các doanh nghiệp thể hiện trên những mặt như: khách hàng quyết định doanh nghiệp kinh doanh cái gì, quy mô, phương thức và giá bán ra sao. Doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro khi không làm hài lòng khách hàng, trong khi nhu cầu, thói quen tiêu dùng và thói quen mua sắm của khách hàng thay đổi mà doanh nghiệp không thể nhận biết hay không nhận biết kịp thời.
- Rủi ro từ đối thủ cạnh tranh: có thể gây ra cho các doanh nghiệp tổn thất về doanh thu và lợi nhuận do gia tăng chi phí trong kinh doanh hoặc bị suy giảm lượng khách hàng hiện có. Miếng “bánh” thị phần của một doanh nghiệp sẽ bị “bé” đi nếu số lượng đối thủ cạnh tranh ngày càng nhiều. - Rủi ro từ các cơ quan quản lí công: Những khó khăn mà các cơ quan quản lí công gây ra có thể là thủ tục hành chính rườm rà; phức tạp; nhân viên cửa quyền, hạch sách; nhà quản lí bàng quan, thờ ơ… 2. Nội dung quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu trang thiết bị y tế bằng đường biển 2.