CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm bảo lãnh trong hoạt động của ngân hàng thương mại Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Luật các tổ chức tín dụng 47/2010/QH12, 2010). Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh (Thông tư 07/2015/TT-NHNN, quy định về bảo lãnh ngân hàng, 2015).
Giáo trình Ngân hàng thương mại: “Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng đối với người thụ hưởng về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính nếu khách hàng của ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ như cam kết”; “Bảo lãnh là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho khách hàng, qua đó khách hàng có thể tìm nguồn tài trợ mới, mua được hàng hóa hoặc thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi” (Phan Thị Thu Hà, 2015). Các hình thức bảo lãnh thông dụng của ngân hàng thương mại Giáo trình Ngân hàng thương mại, các hình thức bảo lãnh thông dụng của NHTM bao gồm: 7 + Bảo lãnh dự thầu: Bảo lãnh dự thầu là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tu (hay chủ thầu) về việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định trong hồ sơ mời thầu. + Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ hợp đồng nhu cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba. + Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng truớc là cam kết của ngân hàng về việc sẽ hoàn trả tiền ứng truớc cho bên mua (bên nhận bảo lãnh) nếu bên cung cấp (bên đuợc bảo lãnh) không trả.
+ Bảo lãnh hoàn trả tiền vốn vay: Bảo lãnh hoàn trả vốn vay là cam kết của ngân hàng đối với nguời cho vay (tổ chức tín dụng, các cá nhân) về việc sẽ trả gốc và lãi đúng hạn nếu khách hàng (nguời đi vay) không trả đuợc. + Bảo lãnh thanh toán: Bảo lãnh thanh toán là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán tiền theo đúng hợp đồng thanh toán cho nguời thụ huởng nếu khách hàng của ngân hàng không thanh toán đủ. + Bảo lãnh bảo hành: Bảo lãnh bảo hành là cam kết của ngân hàng về việc chi trả thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành theo hợp đồng nhu cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba. RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm rủi ro trong hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng thương mại Rủi ro đuợc định nghĩa khác nhau theo từng truờng phái. Theo đó, truờng phái truyền thống cho rằng: Rủi ro đuợc xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm. Tuy nhiên, truờng phái hiện đại quan niệm: Rủi ro là những bất trắc có thể đo luờng đuợc, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con nguời 8 nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội.
Rủi ro là nguy cơ xảy ra những sự kiện ngoài mong muốn, gây ra những tác động bất lợi cho cá nhân hoặc tổ chức. Đối với ngân hàng, các tác động này có thể dẫn đến sự giảm sút trong doanh thu, hoặc đặt ngân hàng vào tình trạng khó khăn về tài chính. Ngoài ra, các tác động này có thể biểu hiện dưới dạng phi tài chính gây hậu quả tiêu cực đến uy tín, khả năng sinh lời trong tương lai của ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng” (Phan Thị Thu Hà, 2015, Giáo trình Ngân hàng thương mại).
Từ định nghĩa về rủi ro như trên thì rủi ro hoạt động bảo lãnh tại NHTM là khả năng xảy ra những biến cố không mong đợi trong hoạt động bảo lãnh tại NHTM mà khi xảy ra sẽ dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ bảo lãnh nhất định. Với vai trò làm trung gian tài chính trong nền kinh tế của NHTM ta thấy giữa người gửi tiền, người cho vay với người cần tiền, người đi vay có sự tách biệt nhau hoàn toàn, ngân hàng là người ở giữa gánh chịu rủi ro từ cả hai phía. Rủi ro là kết quả tổng hợp của rất nhiều nguyên nhân khác nhau, vì vậy ngân hàng phải nghiên cứu kỹ từng loại rủi ro để từ đó có thể đưa ra cách quản trị rủi ro một cách hiệu quả nhất nhằm đảm bảo kinh doanh an toàn và đạt hiệu quả lợi nhuận cho ngân hàng. Phân loại rủi ro trong hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thương mại Hoạt động ngân hàng gắn liền với sự biến động của từng nghiệp vụ kinh tế, do đó rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng tồn tại theo từng nghiệp vụ một.
Các loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng chủ yếu được thể hiện qua sơ đồ sau: 9 Sơ đồ 1.1: Các loại rủi ro của Ngân hàng thương mại (Nguồn: tác giả tự nghiên cứu) Tuy nhiên trong gi ới hạn nghiên cứu của luận văn chỉ phân tích hai loại rủi ro chính thường phát sinh trong ho ạt động bảo lãnh là rủi ro tín dụng, rủi ro tác nghiệp. Rủi ro tín dụng trong hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thương mại a) Khái niệm Theo các tác giả khác nhau, rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một Ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Cụ thể hơn, Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa ngân hàng và khách hàng” (Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision - BCBS), 2003). 10 Giáo trình NHTM: “Bảo lãnh là hình thức tài trợ thông qua uy tín.
Ngân hàng không phải xuất tiền ngay khi cấp bảo lãnh, do vậy bảo lãnh đuợc coi nhu tài sản ngoại bảng. Tuy nhiên khi khách hàng không thực hiện đuợc cam kết, ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ chi trả cho bên thứ ba. Khoản chi trả này đuợc xếp vào loại tài sản “xấu” trong nội bảng, cấu thành nợ quá hạn. Chính vì vậy, bảo lãnh cũng chứa đựng rủi ro nhu một khoản vay và đòi hỏi ngân hàng phân tích khách hàng nhu khi cho vay” (Phan Thị Thu Hà, 2015).
Từ các khái niệm trên, ta có thể đua ra khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động bảo lãnh của NHTM nhu sau: Rủi ro tín dụng trong hoạt động bảo lãnh của NHTM phát sinh trong trường hợp khách hàng không thực hiện được cam kết với Bên thứ ba (Bên nhận bảo lãnh) và NHTM phải thực hiện nghĩa vụ chi trả cho Bên thứ ba thay cho khách hàng. Khi đó, ngân hàng đã thực hiện cho vay bắt buộc với khách hàng và khoản vay ngay lập tức đuợc ghi nhận là nợ xấu. b) Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng xuất phát từ chính ngân hàng, từ phía khách hàng của ngân hàng và từ những nguyên nhân khách quan khác. Về phía ngân hàng, việc đua ra chính sách tín dụng không phù hợp và hiện tuợng thông tin bất cân xứng dẫn đến kho khăn trong việc đua ra phát quyến tín dụng.
Đồng thời, bản thân cán bộ ngân hàng chua nắm vững nghiệp vụ, cố ý làm trái quy định, vi phạm đạo đức kinh doanh làm ảnh huởng xấu đến hoạt động kinh doanh ngân hàng. Việc khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, sử dụng vào các hoạt động rủi ro cao, bản thân khách hàng có năng lực quản lý, hoạt động kinh doanh yếu kém, khách hàng có chủ ý lừa gạt ngân hàng. là những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng đến hoạt động của ngân hàng từ phía Khách hàng. Do đó, việc lựa chọn khách hàng để quan hệ tín dụng là việc quan trọng của ngân hàng.
11 Đồng thời, các nhân tố khách quan như: môi trường kinh tế, giá cả, công nghệ, chính sách, biến động về chính trị - xã hội,. có thể khiến các khách hàng của ngân hàng gặp biến động dẫn đến khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, thậm chí vỡ nợ dẫn đến mất khả năng thanh toán. Từ đó phát sinh rủi ro tín dụng cho NHTM khi cấp tín dụng cho khách hàng. c) Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng trong hoạt động bảo lãnh của Ngân hàng thương mại Cho vay bắt buộc trong hoạt động bảo lãnh là việc NHTM phải thực hiện chi trả cho bên thứ ba thay cho khách hàng theo như cam kết trong bảo lãnh khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ cam kết với bên thứ ba.
Có rất nhiều chỉ tiêu phán ánh rủi ro tín dụng trong hoạt động bảo lãnh tại NHTM, tuy nhiên trong giới hạn nghiên cứu của luận văn phân tích các chỉ tiêu cơ bản sau: + Tỷ lệ cho vay bắt buộc với doanh số bảo lãnh: Ý nghĩa của chỉ tiêu: Đây là tỷ lệ phản ánh chỉ số tương đối giữa doanh số cho vay bắt buộc trong hoạt động bảo lãnh so với doanh số phát hành bảo lãnh của NHTM. Chỉ số này càng cao phản ánh rủi ro tín dụng càng cao.