Chương 1: CO SỞ LÝ THUYET VE QUAN TRI NOI DUNG TUYẾN BAI VE SU CO MOI TRUONG 1. Cac khai niém 1. Khái niệm về quản trị nội dung tuyén bài về sự cỗ môi trường 1. Khải niệm về quản trị Dé một tô chức, cơ quan, doanh nghiệp hay thậm chí là một đất nước đạt được những thành công thì không thể bỏ qua vai trò to lớn và quan trọng của quản tri.
Tuy nhiên, “quản tri” là một thuật ngữ rất khó dé định nghĩa. Ở những góc nhìn khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm quản trị tương đối khác nhau. Theo Mary Parker Follett: “Quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác”. Còn khái niệm về quản trị theo Harold Koontz và Cyril O’Donnell được hiểu như sau: “Quan trị là thiết lập và duy trì một môi trường mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả.
Trong khi đó, Robert Kreitner cho răng: “Quản trị là quá trình làm việc với con người và thông qua con người dé đạt được nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn thay đôi.” Hai nhà nghiên cứu James Stoner va Stephen Robbins lý luận: “Quan trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo va kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tat cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra”. Học giả Robert Albanese lại định nghĩa: “Quản trị là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhăm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đôi để đạt được mục tiêu của tô chức.” Và như vậy, suy cho cùng, quản trị được hiểu một cách đơn giản nhất là sự phối hợp hiệu quả các hoạt động của người cùng chung trong tổ chức. Điêu đó có nghĩa, khi phôi hợp các nguôn lực của tô chức lại với nhau dé đạt 17 được mục tiêu đã đề ra thì đó là quản trị. Các thuật ngữ như: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra được biết đến là các nội dung mà nhà quản trị thực hiện trong quá trình làm việc của mình.
Theo một định nghĩa rộng hơn, được sử dụng phổ biến hơn thì quản trị được nói một cách tổng quan nhất là hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung. Do đó, khi cá nhân tự mình hoạt động thì không cần phải thực hiện hoạt động quản trị. Trái lại, công việc quan tri rất cần thiết trong các tô chức. Bởi lẽ, trong một tổ chức, khi “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, mỗi người mỗi ý và không ai nghe ai thì mỗi người, mỗi bộ phận trong tổ chức đó sẽ hoạt động riêng lẻ, lộn xộn, dẫn tới mục tiêu chung không bao giờ đạt được.
Chính vì vậy, mỗi tô chức cần có những mục tiêu và kế hoạch hành động chung cụ thể. Từ đó, chúng tôi chọn định nghĩa quản trị như sau: Quan tri là quá trình chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý dé thực hiện và phối hợp các hoạt động cả nhân, tập thể, các bộ phán chức năng. nhằm thực hiện hóa các mục tiêu của tập thể, của tổ chức, doanh nghiệp. Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về quản trị nhưng bản chất của quản trị chỉ có một.
Về bản chat, quan trị giúp tìm ra phương thức phù hợp dé công việc hiệu quả cao nhất, chi phí ít nhất. Hoạt động quan tri của tô chức cần ba yếu tố điều kiện cơ bản sau: Phải có chủ thê quản trị. Đó là các nhân tố tạo ra các tác động quản trị vào đối tượng bi quản tri. Đối tượng bị quan tri chu tiếp nhận sự tác động của chủ thé quản trị một hoặc nhiều lần liên tục.
Phải có mục tiêu đặt ra cho chủ thể quản tri và đối tượng bị quản trị. Đây là căn cứ dé chủ thé tạo ra các nhân tổ tác động vào đối tượng bị 18 quản trị. Chủ thể quản trị gồm một hoặc nhiều người. Đối tượng bị quản trị là một tổ chức, một tập thể hoặc thiết bị, máy móc.
Và như vậy, muốn quản trị tốt phải có một nguồn lực. Nguồn lực này giúp chủ thể quản trị khai thác, sử dụng trong quá trình quản trị. Quản trị có 4 chức năng cơ bản gồm: Thứ nhất, quản trị có chức năng hoạch định. Hoạch định bao gồm: Xác định rõ mục tiêu, phương hướng dự thảo chương trình hành động; tạo ra các lịch trình hành động; đề ra biện pháp kiểm soát, cải tiến, phát triển, tổ chức chức năng hoạch định, giúp sự phối hợp hoạt động giữa các nhân viên, giúp tô chức hoạt động hiệu quả.
Thứ hai, quản trị có vai trò tổ chức. Thư ba, lãnh dao. Quản tri luôn bao gồm hoạt động lãnh đạo, tô chức, đó là sự tác động của các nhà quan tri với cấp dưới của mình để hoạt động được vận hành có định hướng. Thứ tr, kiêm soát.
Quản trị còn là hoạt động kiểm soát, nhằm đảm bảo tổ chức đang vận hành đúng theo mục tiêu, phương hướng đề ra. Quản trị và quản lý là hai khái niệm mà hầu hết mọi người cho rằng nó có nghĩa giống nhau. Ở nhiều noi, hai thuật ngữ này được tráo đổi và dùng với ý nghĩa giống nhau. Trên thực tế, hiện nay chưa có sự thống nhất hoàn toàn nao dé phân biệt hai thuật ngữ trên.
Tuy nhiên, quản trị và quản ly có những chức năng khác nhau trong việc phát triển của một tô chức. Quản trị (Administration) là toàn bộ quá trình đưa ra các quyết định về chính sách, quy tắc, mục tiêu. Đây là các hoạt động cấp cao. Quản lý (management) là tiếp nhận, kết nối, thi hành điều phối dé hướng tới mục tiêu của quản trị.
Quản trị về khái niệm là việc thành lập các mục tiêu, chính sách quan trọng của các tô chức. Tuy nhiên, hành động hoặc chức năng của việc tô chức 19 đưa vào thực hành các chính sách, kế hoạch được quyết định thực hiện bởi người quan tri thì lại là nội dung của quản lý. Về đối tượng, quản lý là quản lý công việc. Quản trị là quản trị con nguoi.
Về ban chất, đưa ra quyết định được biết đến chính là chức năng của quản tri. Bởi vì quản trị thành lập ra mục tiêu, chính sách cho tổ chức. Còn thi hành được xem là chức năng của quản lý. Quản lý là hành động dé thực hành chính sách đã được quyết định bởi quản trị.
Về quá trình, quản lý quyết định ai, như thế nào? Quản trị trả lời cho câu hỏi cái gi và bao gid? Về cấp bậc, quản trị là cấp cao nhất, Quản lý là hoạt động cấp trung. Về chức năng, quản lý có chức năng thi hành. Người quản lý hoản thành công việc của mình dưới sự giám sát nhất định. Chức năng quan trọng nhất của quản lý là thúc đây và kiểm soát nhân viên.
Còn quản trị có chức năng tư duy. Các kế hoạch và chính sách được quyết định dựa theo các tư duy. Chức năng quan trọng nhất của quản trị là lập kế hoạch. Về mức độ ảnh hưởng, các quyết định quản lý đưa ra bị ảnh hưởng bởi quyết định, quan điểm của nhà quản lý.
Quản trị đưa ra quyết định bị ảnh hưởng bởi cộng đồng, chính phủ, phong tục. Về tô chức, quản trị thường thấy ở các cơ quan chính phủ, quân sự, tôn giáo, giáo dục, doanh nghiệp. Quản trị phải cố gắng đảm bảo tổ chức đang vận hành đúng theo mục tiêu, phương hướng đề ra. Quản lý thường thấy ở các doanh nghiệp.
Về các vấn đề xử lý, quản trị thường xử lý các khía cạnh kinh doanh, chăng hạn như tài chính. Nó là một hệ thống các tổ chức có hiệu quả dé quan trị con người và nguồn lực. Đồng thời nó giúp cho nhân viên nỗ lực đạt được các mục tiêu chung. Quản trị phải kết hợp cả lãnh đạo và tầm nhìn.
Quản lý là 20 một tập hợp con của chính quyên. Quản lý xử lý các van đề về hoạt động, vận hành của một tổ chức. Dù là quản lý hay quản trị thì đều cần tuân thủ theo nguyên tắc, quy định, phương pháp, luật lệ và các quy chế nhất định. Đây đều là công việc mang tính khoa học.
Nhu vậy, có thé thấy, quản trị và quản lý có những tiêu chí khác nhau dé phan biét về: các van đề xử lý, về đối tượng, về ban chất, về t6 chức, về mức độ ảnh hưởng, về quá trình, về cấp bậc, về chức năng. Đối với một tổ chức, cấp bậc của quản tri được nhận định là cao nhất và chức năng của nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến các thành viên khác khi nhận được công việc từ người quản tri. Vai trò của nhà quản tri là định ra các mục tiêu; tô chức; động viên khuyến khích và truyền đạt thông tin; đo lường và phát triển con người. Đóng góp duy nhất mà nhà quản trị cần có là giúp người khác có tầm nhìn và khả năng làm việc tốt.
Chính tam nhìn và trách nhiệm là những yếu tô xác định rõ nha quan tri. Khái niệm về nội dung Theo sách “Từ điển Tiếng Việt” thì nội dung là mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện.131] Trong xuất bản, nghệ thuật và truyền thông, nội dung là thông tin và trải nghiệm hướng đến người dùng cuối hoặc khán giả. Nội dung là một cái gì đó được thê hiện thông qua một số phương tiện, như lời nói, văn bản hoặc bat ky nghé thuat nao khac nhau. Nội dung có thé được chuyên tai, truyền qua nhiều phương tiện khác nhau bao gồm internet, điện ảnh, truyền hình, đài phát thanh, điện thoại thông minh, CD âm thanh, sách, sách điện tử, tạp chí và các sự kiện trực tiếp, như bài phát biêu, hội nghị và biêu dién trên sân khâu.
21 Nội dung trong luận văn được hiểu là các tin, bài về sự cỗ môi trường được đăng tải trên các ấn phẩm, các fanpage của Báo Pháp luật Việt Nam dưới hình thức là ngôn ngữ tiếng Việt được thể hiện bằng âm thanh, hình ảnh hay văn bản. Khái niệm tuyến bài Theo điều 3 Luật Báo chí 2016: Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, van dé trong đời sống xã hội thé hiện bằng chữ viết, hình anh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng qua các loại hình báo in, báo nói, báo viết hay báo điện tử.