mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, lời chào, đáp ứng yêu cầu của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả”. Chương trình truyền hình được hiểu như chương trình “Thời sự” (hoặc Bản tin Thời sự), “Phóng sự chuyên đề”, chương trình “Thiếu nhi”, Trò chơi “Show games”, …được phân bổ theo các kênh chương trình và được thể hiện bằng những nội dung cụ thể qua tin, bài, tác phẩm truyền hình.2 Môi trường Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam thì môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Trang 7 Môi trường là nơi cung cấp các nhu cầu về tài nguyên cho con người như đất, đá, tre, nứa, tài nguyên sinh vật. Tất cả các tài nguyên này đều do môi trường cung cấp và giá trị của tài nguyên phụ thuộc vào mức độ khan hiếm và giá trị của nó trong xã hội.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia1 thì môi trường là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của con người trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường. Các tài nguyên sau khi hết hạn sử dụng, chúng bị thải vào môi trường dưới dạng các chất thải. Các chất thải này bị các quá trình vật lý, hóa học, sinh học phân hủy thành các chất vô cơ, vi sinh quay trở lại phục vụ con người. Tuy nhiên chức năng là nơi chứa đựng chất thải của môi trường là có giới hạn.
Nếu con người vượt quá giới hạn này thì sẽ gây ra mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường.3 Nhận thức Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng (2006) thì nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó.4 Hành vi và các lý thuyết liên quan Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng (2006): Hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách ứng xử, biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định. 1 Tài liệu tham khảo từ https://vi.org/wiki/M%C3%B4i_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng Trang 8 Hành vi bảo vệ môi trường sau khi xem chương trình truyền hình là cách mà cá nhân nào đó phản hồi lại với sự vật hay hiện tượng thông qua việc thực hiện các hành động công khai và có phản ứng về mặt cảm xúc đối với các vấn đề về môi trường. Thông tin được xem là điều kiện quan trọng để tạo ra kiến thức, dẫn đến nhận thức và hành vi trong giả định sự lựa chọn hợp lý trong kinh tế học truyền thống đã làm nổi bật vai trò của thông tin trong việc xác định kết quả thông qua hành vi của con người (Kolmuss và Agyeman, 2002) .1 dưới đây là mô hình tuyến tính được đưa ra: Environmental Environmental Pro-environmental knowledge conscious behavior (kiến thức về môi (nhận thức về môi (hành vi đối với trường) trường) môi trường) Hình 2.1: Mô hình tuyến tính của hành vi ủng hộ môi trường (Kolmuss và Agyeman, 2002) Các mô hình như hình 2.1 cho thấy sự rõ ràng về vấn đề thông tin -> nhận thức -> hành vi, tuy nhiên trong khi thông tin có thể có vai trò quan trọng trong việc hình thành nên nhận thức thì mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi thường ít mạnh mẽ (Monroe, 2006). Thông thường, lời nói và hành động thường không thống nhất với nhau, dẫn đến sự chênh lệch giữa nhận thức và hành động (Blake,1999 –được dẫn bởi Kolmuss và Agyeman 2002) được biểu diễn thông qua hình 2.2: Thực tế Nhận thức Phản hồi Thiếu thời gian Cá nhân Hành vi đối với vấn Lười biếng Không hiệu quả Thiếu tiền bạc Không cần thiết Thiếu thông tin về môi đề môi Người xấu Thiếu sự tin tưởng Không hứng thú Thiếu sự khuyến khích trường trường …….2: Những rào cản giữa nhận thức và hành vi về môi trường (Blake, 1999) Trang 9 Lý thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behavior) được phát triển bởi Ajzen (1985) dựa trên lý thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) của Fishbein và Ajzen (1975).
Mô hình TRA cho thấy hành vi của một người được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi, (Mark,C & Christopher J.1430, được trích lại bởi Đặng Thị Ngọc Dung, 2012), trong đó thái độ (được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả do hành vi mang lại) và tiêu chuẩn chủ quan là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi. Lý thuyết này được đưa ra, kiểm chứng thực nghiệm trong nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực (Ajzen, 1988; Ajzen & Fishben, 1980) và được sử dụng rộng rãi để giải thích cơ chế tác động của các yếu tố nhận thức và thái độ về môi trường đến hành vi thực tế. Lý thuyết TRA rất hữu hiệu khi dự báo những hành vi nằm trong tầm kiểm soát của ý chí con người. Theo Ajzen (1991), Lý thuyết hành vi dự định TPB ra đời xuất phát từ giới hạn của hành vi mà con người có ít sự kiểm soát.
Ajzen đã bổ sung yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi như nhân tố thứ ba ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi thực tế. Như vậy, theo thuyết TPB thì ý định được quyết định bởi 3 yếu tố: thái độ cá nhân, chuẩn chủ quan và sự nhận thức kiểm soát hành vi. Thái độ mang tính cá nhân là sự đánh giá tích cực hay tiêu cực khi thực hiện một hành vi nào đó. Ví dụ, xem việc sử dụng túi tự hủy là một hành vi có ích phản ánh thái độ tích cực của cá nhân đối việc bảo vệ môi trường sau khi xem CTTH.
Chuẩn chủ quan phản ánh ảnh hưởng của xã hội đến ý định một người. Chuẩn chủ quan là cảm nhận của cá nhân về áp lực hay chuẩn mực xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi. Một người có thể sẽ chịu tác động và ảnh hưởng của các đối tượng là cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè, đồng nghiệp. Chẳng hạn, nếu một người nhìn nhận rằng gia đình hay bạn bè việc sử dụng túi tự hủy là một hành động có ý nghĩa đối với cộng đồng, người này sẽ cảm thấy tác động tích cực đối với việc bảo vệ môi trường của họ và họ có nhiều khả năng tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường.
Sự nhận thức kiểm soát hành vi là khả năng thực hiện hành vi, phản ánh mức độ dễ dàng/hay khó khăn mà một hành vi có thể được thực hiện. Ví dụ: nếu một người không đủ tiền để lắp các thiết bị tiết kiệm điện thì họ sẽ gặp trở ngại với ý định lắp Trang 10 các thiết bị ít tiêu hao điện trong thực tế. Như vậy, lý thuyết hành vi dự định cho thấy nếu mọi người có thái độ tích cực với việc bảo vệ môi trường (như việc sử dụng túi tự huỷ), nếu họ nhận thấy những người thân của họ nghĩ đó là một điều tốt và nếu họ nghĩ hành động này dễ dàng thực hiện, thì họ sẽ có ý định thực hiện việc bảo vệ môi trường và ý định của họ được thúc đẩy thành hành vi bảo vệ môi trường trong thực tế.5 Hàng hóa công cộng, hàng hóa tư nhân và ngoại tác trong vấn đề MT 2.1 Hàng hoá công cộng và hàng hoá tư nhân Mankiw (6th, bản dịch của Trường Đại học Kinh tế TPHCM, 2014) cho rằng hàng hóa tư nhân là hàng hóa có cả tính loại trừ và tính cạnh tranh trong tiêu dùng. Các hàng hóa có tính cạnh tranh trong tiêu dùng hay tính loại trừ thường là vấn đề mang tính cấp độ vì ranh giới phân chia giữa các nhóm hàng hóa đôi khi mờ nhạt và rất khó để tách bạch riêng rẽ.
Theo Nguyễn Thuấn (2005), hàng hóa công cộng là loại hàng hóa mà tất cả mọi thành viên trong xã hội có thể sử dụng chung với nhau. Việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác. Như vậy hàng hoá công cộng là loại hàng hóa thỏa mãn một trong hai đặc điểm: (1) nó không phải được dành riêng cho ai, không ai có quyền sở hữu cá nhân về hàng hóa ấy; (2) việc sử dụng hàng hoá công cộng của người này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác vì chi phí tăng thêm để tiêu dùng một hàng hóa tăng thêm là rất nhỏ, hầu như bằng không. Tuy nhiên, không phải bất kỳ một hàng hóa được gọi là hàng hoá công cộng nào cũng đảm bảo một cách nghiêm ngặt các đặc điểm trên, mà tuỳ theo mức độ đảm bảo, mà người ta có thể chia thành hai loại hàng hoá công cộng.
Đó là hàng hoá công cộng thuần tuý và hàng hoá công cộng không thuần túy. Hàng hoá công cộng thuần túy: Là loại hàng hoá công cộng không thể định suất được và việc định suất sử dụng là không cần thiết; nghĩa là mọi người đều có thể sử dụng hàng hóa. Mức độ sử dụng phụ thuộc vào nhu cầu của họ và các qui định chung bởi vì: (1) không thể đo lường mức độ sử dụng của từng người, do đó không thể buộc người tiêu dùng phải trả tiền trực tiếp khi Trang 11 sử dụng hàng hóa; (2) Việc định suất hoặc loại trừ các cá nhân sử dụng hàng hóa có khả năng dẫn đến tình trạng kém hiệu quả, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng, bao gồm: chương trình quốc phòng, chương trình y tế, chương trình phòng cháy chữa cháy, hải đăng, chương trình phổ thông giáo dục, chương trình truyền hình, không khí trong sạch, sông ngòi ao hồ, đường sá có mật độ lưu thông cao. Những chất xả thải của một doanh nghiệp có thể có tác động đến chất lượng không khí và lợi ích của những người sử dụng không khí trong sạch.
Hàng hoá công cộng không thuần túy: Là hàng hoá công cộng có thể định suất được, có thể loại trừ nhưng phải chấp nhận một khoản tốn kém chi phí nhất định. Tuy nhiên, việc tiêu dùng hàng hóa của người này cũng không làm ảnh hưởng đáng kể đến việc tiêu dùng của người khác. Theo đó, môi trường trong sạch là hàng hóa công cộng thuần túy vì nó thỏa mãn hai thuộc tính của hàng hóa công cộng: Tính không cạnh tranh trong sử dụng: việc sử dụng hàng hóa của người này không làm mất đi tính sẵn có của người khác đối với hàng hóa đó.