Chương 1: Một số lý luận chung về quản trị nội dung tin tức truyền hình Chương 2: Thực trạng quản trị nội dung tin tức truyền hình của Đài PTTH Cà Mau hiện nay Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quản quản trị nội dung tin tức truyền hình ở Đài PTTH Cà Mau trong thời gian tới. 17 Chƣơng 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ NỘI DUNG TIN TỨC TRUYỀN HÌNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Tin tức truyền hình Sự xuất hiện của truyền hình được xem là một điều kỳ diệu trong sáng tạo của nhân loại.
Cùng với việc kết hợp giữa hành động và âm thanh, truyền hình đem đến cho con người cảm giác chân thực về một cuộc sống sinh động đang hiện diện trước mắt khi ngồi trước máy thu hình. Cuộc sống đó đã được cô đọng, điển hình hóa trên nhiều bình diện khác nhau, làm giàu thêm về ý nghĩa trước khi đưa đến cho khán giả thông qua các chương trình truyền hình. Theo tác giả Dương Xuân Sơn, “Truyền hình không phải là một không gian thảo luận mà là một không gian để thể hiện: nó là phương tiện truyền thông đại chúng thiết yếu để phổ biến những mô hình văn hoá và giải thích thế giới. Những mô hình văn hoá này hoà nhập vào trong mỗi từ, mỗi hình ảnh, mỗi âm thanh do truyền hình phát ra, như trong những ngôn ngữ thường ngày” [34, Tr.
Trong tập bài giảng môn Truyền hình của Khoa Báo chí, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, tác giả Dương Xuân Sơn nêu “Truyền hình là một phương tiện thông tin đại chúng truyền đạt thông tin nhờ phương tiện kỹ thuật đến đối tượng tiếp nhận là người xem. Thông tin trong truyền hình gồm hình ảnh và âm thanh” [34, Tr.140] Trên cơ sở phân tích ở trên có thể khái quát “Tin tức truyền hình là thông tin về những sự kiện, sự việc có thật, mới xảy ra, đang xảy ra có ý nghĩa quan trọng hoặc có liên quan đến xã hội, được thể hiện bằng hình thức 18 ngắn gọn, nhanh chóng chuyển tải tới công chúng thông qua âm thanh và hình ảnh”. Tóm lại, trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, tin tức truyền hình được nhắc tới với tư cách là thông tin (tin mới từ các thể loại như tin, phóng sự, phỏng vấn…). Nghĩa là nó có những điểm nổi trội về tính chất thông tin, về hình thức thể hiện, về mục đích thông tin.
Cụ thể: - Về tính chất thông tin: Thông tin phải chính xác, nhanh chóng, kịp thời, trung thực, đúng định hướng, thiết thực với công chúng. Trong cuốn Thời sự truyền hình, tác giả Victoria Mc Cullough Caroll đã khẳng định “Tin tức truyền hình đó là một cuộc cạnh tranh theo đúng nghĩa…Người ta vẫn nói rằng những người làm việc trong chương trình thời sự lúc nào cũng “ngửi thấy” mùi cạnh tranh nhưng điều đó giúp họ giữ vững được vị trí của mình”. Nghĩa là, tin tức truyền hình cần nhanh chóng, tức thời. - Về hình thức thông tin: Thông tin truyền hình được thể hiện bằng hình ảnh và âm thanh sống động.
Và đây chính là đặc điểm phân biệt tin tức truyền hình và tin tức ở các loại hình báo chí khác.TS Tạ Ngọc Tấn: “Thông tin truyền hình tái hiện cuộc sống hiện thực trong trạng thái sống. Nghĩa là truyền hình có thể là một phạm vi, một bộ phận nguyên dạng những gì đang diễn ra ngoài đời nhưng nó được cho là rõ hơn, đẹp hơn. Người xem truyền hình có cảm giác như họ đang có mặt, trực tiếp chứng kiến hay đang tham gia vào sự kiện thực tế đó” [39 , tr. - Về mục đích thông tin: Thông tin truyền hình giúp khán giả trong một khoảng thời gian ngắn nhất, nhanh nhất biết có sự kiện gì xảy ra, ngoài ra còn giúp nếu kịp còn cho biết và hiểu sâu về sự kiện đó.
Nội dung tin tức truyền hình Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Nội dung là mặt bên trong của sự vật cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện”. Với định nghĩa 19 này có thể hiểu nội dung là thông tin, thông điệp và trải nghiệm những điều mà đối tượng hay phương tiện truyền thông làm ra và hướng đến người dùng. Trong cuốn Tác phẩm báo chí của Phân viện Báo chí và Tuyên truyền đã chỉ ra nội dung một tác phẩm báo chí gồm nhiều yếu tố làm nên trong đó có đề tài, chủ đề và chi tiết. Đó là những yếu tố góp phần đem thông tin đến cho công chúng.
Vậy, nội dung tin tức truyền hình có thể hiểu đó là thông tin, thông điệp (đề tài, chủ đề, chi tiết) về sự kiện, sự việc nào đó được gửi đến công chúng qua loại hình truyền hình Trong thực tế, nội dung và hình thức thống nhất với nhau vì nội dung là những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật, còn hình thức là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nội dung. Nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất. Không có hình thức nào tồn tại thuần túy không chứa đựng nội dung, ngược lại cũng không có nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức xác định. Nội dung nào có hình thức đó.
Nội dung và hình thức không tồn tại tách rời nhau, nhưng không hẳn lúc nào nội dung và hình thức cũng phù hợp với nhau. Không phải một nội dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện ra trong một hình thức nhất định, và một hình thức luôn chỉ chứa một nội dung nhất định, mà một nội dung trong quá trình phát triển có thể có nhiều hình thức thể hiện, ngược lại, một hình thức có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau, một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung khác nhau. Vì vậy, trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi xin phép được hiểu khái niệm nội dung theo nghĩa rộng hơn, đó là nội dung tác phẩm, chương trình truyền hình đó là nói tới một kết cấu hoàn chỉnh, ở đó nội dung được chuyển tải trong một hình thức cụ thể, đó là được thể hiện thông qua một số phương tiện, như lời nói, văn bản hoặc bất kỳ nghệ thuật nào khác 20 nhau. Nghĩa là nội dung chỉ có giá trị khi được chuyển tải qua một phương tiện nhất định và đến được với người cần.
Quản trị Về nội dung, thuật ngữ "Quản trị" là một từ khó định nghĩa. Mỗi một tác giả khi đề cập đến quản trị đều có một định nghĩa của riêng mình. Theo Từ điển tiếng Việt, “Quản là trông coi, điều khiển”, “Trị là đưa vào khuôn khổ”, “Quản trị có nghĩa là quản lí, điều hành công việc hàng ngày” [29, tr. Quản trị là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều lĩnh vực.
Ví dụ quản trị hành chính (trong các tổ chức xã hội), quản trị kinh doanh (trong các tổ chức kinh tế). Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh lại chia ra nhiều lĩnh vực: Quản trị tài chính, quản trị nhân sự, quản trị Marketing, quản trị sản xuất.Hà Văn Hội trong bài viết “Khái niệm và bản chất của quản trị” đăng trên trang Web quantri.vn thì “- Quản trị là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của những người khác; quản trị là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức”. Quản trị trong tiếng Anh có nghĩa là Administration. Theo bài viết “Quản trị là gì? Một nhà quản trị giỏi cần những gì?” của tác giả Nguyễn Văn Hùng, Viện Công nghệ quản trị Á Châu đăng trên trang web vuahocvualam.com thì “Quản trị là phối hợp hiệu quả các hoạt động của người cùng chung trong tổ chức.
Đây là quá trình nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra bằng việc phối hợp nguồn lực của tổ chức. Quản trị còn là quá trình các nhà quản trị hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra”. Herman Stein định nghĩa “Quản trị là một tiến trình xác định và đạt các mục tiêu của một tổ chức thông qua một hệ thống phối hợp và hợp tác”. 21 Mary Parker Follett- Nhà nghiên cứu về lý thuyết hành vi định nghĩa “Quản trị là việc hoàn thành công việc thông qua người khác”.
Định nghĩa này có thể hiểu những nhà quản trị đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách sắp xếp, giao việc cho những người khác, chứ không phải hoàn thiện công việc bằng chính mình. Koontz và O‟Donnell trong giáo trình “Những điều cốt yếu của quản lý” thì định nghĩa “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mỗi nhà quản trị ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu của mình”. Sau khi tham khảo một số định nghĩa về quản trị, có thể rút ra định nghĩa: “Quản trị là tiến trình thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác”. Quản trị là phối hợp hiệu quả các hoạt động của người cùng chung trong tổ chức.
Đây là quá trình nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra bằng việc phối hợp nguồn lực của tổ chức. Quản trị còn là quá trình các nhà quản trị hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Thực tế hiện nay có hai khái niệm hay được sử dụng nhưng hay nhầm lẫn, đó là khái niệm quản lý và khái niệm quản trị. Theo Từ điển Tiếng Việt, “Quản lý là trông coi và gìn giữ; là tổ chức và điều khiển các hoạt động của con người theo yêu cầu nhất định” [27, tr.Mác thì “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”.
Luận điểm này của C.Mác có thể áp dụng với mọi hoạt động chung của con người trong xã hội. Các quan niệm nêu trên khá đầy đủ đã chỉ ra quản lý là những tác động có mục tiêu, có kế hoạch, đòi hỏi phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định trong mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý. Hiệu quả của hoạt động quản lý phụ thuộc vào cơ cấu của tổ chức. 22 Qua tìm hiểu và phân tích có thể hiểu: Quản lý chức năng là thành lập các mục tiêu, chính sách quan trọng của các tổ chức.
Còn quản trị được hiểu là hành động hoặc chức năng của việc đưa vào thực hành các chính sách, kế hoạch đã được quyết định thực hiện bởi người quản trị.