Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NỘI DUNG CỦA CƠ QUAN BAO CHÍ TRONG BOI CANH TRUYEN THONG ĐA PHƯƠNG TIEN 1. Hệ thống khái niệm 1. Quản trị Quản trị, tiếng Anh là “Governance” hoặc “Management”, là thuật ngữ được dùng trong nhiều lĩnh vực như: quản trị nhà nước, quản trị doanh nghiệp, quan trị tổ chức, quản trị văn phòng, quan trị kinh doanh. Có nhiều cách hiểu về quản trị.
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (NXB Từ điển bách khoa, 2012), quản trị được giải nghĩa là “quản lý và điều hành công việc thường ngày (thường về sản xuất, kinh doanh hoặc về sinh hoạt)” [36, tr. Tác giả Nguyễn Tan Phước trong cuốn “Quản trị hoc — Những van dé co bản” đưa ra khái niệm: Quản tri là tiễn trình hoạch định, tô chức, bó trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát những nỗ lực của con nguoi, đồng thời vận dụng một cách có hiệu quả mọi tài nguyên (gồm con người, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, tiền bạc, bí quyết, công nghệ.) dé hoàn thành mục tiêu đã định [21, tr. Còn tác giả Nguyễn Hải Sản trong cuốn “Quản trị học” thì cho rằng: Quan trị là quá trình làm việc và thông qua người khác đề thực hiện các mục tiêu của tô chức trong một môi trường luôn biến động [28, tr. Theo “Giáo trình Quản trị học” của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường [ 15, tr.
Qua các định nghĩa trên, có thể thấy quan tri có một số đặc điểm sau: 7# nhất, muốn quản trị được phải có một hệ quản trị, bao gồm chủ thé quản tri (một người/nhóm người quản trị, thiết bị quản trị) và đối tượng quản trị (con người, 16 cây trồng, vật nuôi, nhà xưởng, may móc. 7 hai, quản trị là một quá trình, liên quan đến việc trao đổi thông tin nhiều chiều. Chủ thể quản trị phải liên tục thu thập dữ liệu, chon lọc va xử lý thông tin, truyền tin và ra quyết định nhằm tác động đến đối tượng quản trị. Đối tượng quản trị tiếp nhận các tác động quản trị của chủ thể cùng các đảm bảo vật chất khác đề thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cua mình.
Thi ba, hoạt động quản trị luôn có mục tiêu nhất định. Quản trị thành công chính là việc đạt được mục tiêu đề ra theo cách tốt nhất với nguồn lực hạn chế nhất, trong hoản cảnh môi trường biến động. Từ các định nghĩa và phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về quản trị, đó là: Quản trị là một chuối hoạt động của chủ thể quản trị tác động lên đối tượng quản trị nhằm đạt được mục tiêu nhất định frong điều kiện môi trường biến động. Quá trình quản trị bao gồm các bước: Lập kế hoạch, tô chức, lãnh đạo và kiểm tra.
Trong đó, lap kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu và những phương thức hành động thích hợp dé đạt được mục tiêu. 76 chức là quá trình xây dựng những hình thái cơ cấu nhất định dé đạt mục tiêu và đảm bảo nguồn nhân lực theo cơ cấu. Lãnh đạo là quá trình chỉ đạo và thúc đây các thành viên làm việc một cách tốt nhất vì lợi ich của tô chức. Kiểm tra là quá trình giám sát và chấn chỉnh các hoạt động dé đảm bảo việc thực hiện các kế hoạch.
Quản trị nội dung Quản trị nội dung là thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ việc quản lý “vòng đời” của thông tin dưới bat kỳ dạng nào (văn bản, âm thanh, hình anh.), từ khi được tạo ra đến khi lưu trữ hoặc xóa vĩnh viễn. Quản trị nội dung giúp tạo ra thông tin có cau trúc và định hướng, giảm thiểu nội dung cồng kênh và tăng tính kiểm soát thông tin, từ đó tối ưu hóa trải nghiệm người dung. 17 Như vậy, có thê đưa ra khái niệm về quản tri nội dung như sau: Quản tri nội dung là quá trình lên kế hoạch, thu thập hoặc sáng tạo, xử lý, phân phối, truy xuất, quản lý tong thé thông tin ở bat kỳ định dạng nào (văn bản, âm thanh, hình ảnh hoặc kết hợp các hình thức) theo một mục đích nhất định. Quản trị nội dung thường bao gồm các giai đoạn: Lên kế hoạch nội dung: thu thập/sáng tạo; chỉnh sửa/tạo ra các phiên bản khác; phân phối, lưu trữ/xóa vĩnh viễn.
Đối với một cơ quan báo chí, một trong những chức năng quan trọng nhất chính là chức năng thông tin. Nội dung thông tin chính là yếu tố sống còn, là xương sống của tờ báo, góp phần quan trọng làm nên tên tuổi, phong cách, thương hiệu của tờ báo. Tờ báo có được bạn đọc quan tâm, yêu thích, đón nhận hay không, một phần rất lớn do nội dung thông tin quyết định. Do đó, có thể nói quản trị nội dung là một trong những mặt công tác quan trọng nhất của một cơ quan báo chí.
Quản trị nội dung của cơ quan báo chí có thê hiểu là việc xây dựng và phát triển nội dung của tờ báo, từ tiếp nhận tin, bài, ảnh, tệp âm thanh, video. sau đó xử lý cho tới khi xuất bản dưới hình thức một sản phẩm báo chí. Từ khái niệm quản trị nội dung và những phân tích trên, có thê đưa ra khái niệm về quản trị nội dung báo chí-truyền thông như sau: Quản tri nội dung báo chi-truyén thông là chuỗi hoạt động nhằm thiết lập, duy trì và phát triển nội dung thông tin mà một cơ quan báo chi-truyén thông truyền tải tới công chúng, giúp công chúng tiếp cận, hiểu và chấp nhận một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất nội dung và hình thức thể hiện của thông tin báo chi-truyén thông. Da phương tiện và truyền thông đa phương tiện 18 Đa phương tiện là thuật ngữ được dịch từ tiếng Anh: “Multimedia”, với tiền tố “multi” nghĩa là số nhiều và từ gốc Latinh “media” nghĩa là các phương tiện truyền thông đại chúng.
Theo nghĩa rộng, đa phương tiện bao gồm các phương tiện: văn bản, hình vẽ tĩnh (vẽ, chụp), hoạt hình (hình ảnh động), âm thanh. Hoặc có thể nói, đa phương tiện là kỹ thuật mô phỏng và sử dụng đồng thời nhiều dạng phương tiện chuyên hóa thông tin và các tác phâm từ các kỹ thuật đó. Theo tác giả Tay Vaughan trong cuốn sách “Multimedia: Making it work” (tạm dich: Da phương tiện: Làm cho nó hoạt động), đa phương tiện là sự kết hợp bất kỳ giữa văn bản, hình ảnh, âm thanh, hoạt hình và video được mang đến cho bạn với sự trợ giúp của máy tính, hoặc thiết bị số hay điện tử nào khác. Sự kết hợp đó có khả năng đưa đến cho bạn những cảm nhận phong phú [40].
Theo nhóm tác giả trong cuốn sách “Báo chí và truyền thông đa phương tiện”: Đa phương tiện là sự kết hợp của nhiều loại phương tiện (ngôn ngữ văn tự và phi van tự): văn ban (text), hình ảnh tinh (still image), hình ảnh động (animation), đồ họa (graphic), âm thanh tông hợp (audio), video và chương trình tương tac (interactive program) nhằm gây sự chú ý, tăng độ hấp dẫn, dam bảo độ tin cậy, chân thực, khách quan và nâng cao tính thuyết phục trong chuyền tải thông điệp [9, tr. Đa phương tiện trong báo chí, theo tác giả Mark Deuze trong bài viết “What is Multimedia Journalism?” (tạm dich: Bao chi đa phương tiện là gi?) là: 1) Sự cung cấp các gói tin tức trên trang web bang việc sử dung 2 hay nhiều hon các nền tảng truyền thông, như là văn bản viết và nói, nhạc, hình ảnh tĩnh và động, đồ họa, các yếu tô siêu văn bản (và không chỉ hạn chế trong các nền tảng này); 2) Sự cung cấp các gói tin tức qua những nên tảng khác nhau: Internet, truyền thông di động, SMS, MMS, phát thanh, truyền hình, in ấn [38]. 19 Từ các khái niệm trên, theo quan điểm cá nhân của tác giả luận văn, có thê khái quát định nghĩa đa phương tiện trong lĩnh vực báo chí-truyền thông như sau: Da phương tiện là sự kế hợp giữa nhiều hình thức như văn bản, âm thanh, hình ảnh, đồ họa. dé chuyển tải thông điệp đến công chúng một cách có hiệu quả nhất.
Còn truyền thông đa phương tiện, theo nhà nghiên cứu Tony Cawkell trong cuốn “Multimedia Handbook” (tạm dịch: Số tay đa phương tiện), là quá trình xử lý và trình bày thông tin dưới hai hay nhiều dạng truyền thông [37, pg. Ở Việt Nam, theo nhóm tác giả cuốn sách “Báo chí và truyền thông đa phương tiện”, truyền thông đa phương tiện là hình thức truyền thông có sự kết hợp nhiều phương tiện (như: văn bản, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, video, âm thanh, đồ họa.) và sử dụng công nghệ thông tin (với công cụ không thể thiếu là máy tính) trong sáng tạo, thiết kế, sản xuất và truyền đi những thông điệp, sản pham có khả năng tác động vào nhiều giác quan của con người [9, tr. Như vậy, theo tác giả luận văn, có thé hiểu: Truyén thông đa phương tiện là phương thức truyền tải thông tin bằng việc kết hợp các yếu to văn bản, hình ảnh, âm thanh, hoạt hình, video qua những thiết bị số hoặc điện tử. Hiểu đơn giản, truyền thông đa phương tiện chỉ việc sử dụng nhiều hơn một loại phương tiện dé truyền thông.
Boi cảnh truyền thông da phương tiện “Bối cảnh”, tiếng Anh là “Context”, được Từ điển Oxford giải nghĩa là hoàn cảnh mà một sự vật, sự việc ton tại, phát triển và có thé giúp giải thích về sự vật, sự việc đó. Còn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (NXB Từ điển bách khoa, 2012) giải nghĩa “Bối cảnh” là: “(1) Cảnh vật làm nên trong bức vẽ hoặc khung 20 cảnh bài trí làm nền trên sân khấu. Bồi cảnh có thể được hiểu là không gian, môi trường vật lý hoặc biểu tượng đóng vai trò là khuôn khổ dé hiểu một sự vật, sự việc, hiện tượng trong sự phát triển của nó. Bối cảnh có tác động đến sự phát sinh, tồn tại, phát triển của sự vật, hiện tượng.
Từ bối cảnh có thé hiểu va giải thích khía cạnh nào đó của sự vật, sự việc, hiện tượng. Khi xem xét, tìm hiểu, giải thích một sự việc, hiện tượng, một con người hay nhóm người, việc hiểu biết về bối cảnh của sự việc, hiện tượng, con người hay nhóm người đó là rất quan trọng. Từ các giải nghĩa và phân tích trên, theo quan điểm của tác giả luận văn: Boi cảnh là hoàn cảnh chung dé một sự vật, sự việc tôn tai, phát triển và có thể giúp giải thích về sự vật, sự việc đó. Bồi cảnh truyền thông là hoàn cảnh chung, môi trường dé truyền tải thông tin.