phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: 6 Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quản trị nội bộ của Công ty cổ phần và pháp luật về quản trị nội bộ của Công ty cổ phần ở Việt Nam Chƣơng 2: Những quy định pháp luật về quản trị nội bộ Công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về quản trị nội bộ của Công ty cổ phần 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NỘI BỘ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ NỘI BỘ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 1. Những đặc thù pháp lý của công ty cổ phần CTCP là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự hình thành của thị trƣờng vốn và thị trƣờng tiền tệ. Xuất phát từ quá trình công nghiệp hóa ở các nƣớc Châu Âu và Bắc Mỹ từ Thế kỷ 18, 19 cùng với nhu cầu t ch tụ vốn để đầu tƣ của các nhà tƣ bản đã làm xuất hiện loại hình CTCP. Sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa Tƣ bản đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có quy mô ngày càng lớn, độc quyền và có mức độ ngày càng gay gắt.
CTCP là hình thức kinh doanh thỏa mãn đƣợc những nhu cầu này, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tƣ bản, nhƣ nhận định của Các Mác: “Qua các CTCP, sự tập trung đã thực hiện được việc đó trong nháy mắt” [8, tr. Ở các nƣớc khác nhau, CTCP có thể có những tên gọi khác nhau. Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous Company), ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company LTD), ở Mỹ nó đƣợc gọi là công ty kinh doanh (Commercial Coporation), và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần (Kabushiki Kaisha)… [52, tr. CTCP xuất hiện đầu tiên trên thế giới là Công ty Đông Ấn (East India Company) của Anh (1600 - 1874).
Công ty đƣợc thành lập ngày 31/10/1860 bởi một nhóm có 218 ngƣời, và đƣợc cấp ph p độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở Châu Á, Châu Phi. Sau đó thấy rõ sự phù hợp và cần thiết của loại hình này, một số nƣớc nhƣ: Mỹ, Thụy Sỹ và Châu Âu đã phát triển và hoàn thiện quy định về loại hình doanh nghiệp này [68]. 8 Ở Việt Nam, Luật lệ về công ty lần đầu tiên đƣợc quy định là trong “Bộ Dân luật thi hành tại các toà Nam án Bắc Kỳ”, trong đó tiết thứ 5 (Chƣơng IX) nói về hội buôn đƣợc chia thành hai loại là hội ngƣời và hội vốn. Trong đó hội vốn đƣợc chia thành hai loại là hội vô danh (CTCP) và hội hợp cổ (Công ty hợp vốn đơn giản).
Nhìn chung, quy định của pháp luật thời kỳ này về CTCP còn rất sơ khai [15, tr. Vào thời kỳ Pháp thuộc, Bộ luật Thƣơng mại Pháp ra đời năm 1807 có quy định về hình thức CTCP. Năm 1972, ch nh quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Bộ luật Thƣơng mại, trong đó CTCP đƣợc gọi là hội nặc danh với đặc điểm “gồm có các hội viên mệnh danh cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phần hùn của mình dưới hình thức cổ phần và chỉ được thành lập nếu có số hội viên từ 7 người trở lên ” [68]. Mặc dù trƣớc năm 1954 đã xuất hiện loại hình CTCP, tuy nhiên, với chính sách kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các hình thức công ty nói chung và CTCP nói riêng hầu nhƣ không đƣợc pháp luật thừa nhận.
Chỉ đến sau công cuộc Đổi mới 1986 do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động, LCT đầu tiên mới đƣợc ban hành ngày 21/12/1990, hình thức CTCP mới ch nh thức đƣợc quy định cụ thể. Việc ban hành LCT 1990 đã đặt cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triển hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam nói chung và CTCP nói riêng. Sự ra đời của LCT 1990 đã đặt nền móng cho sự phát triển vƣợt bậc của nền kinh tế Việt Nam, từ một quốc gia k m phát triển đã gia nhập thuộc nhóm các nƣớc đang phát triển và có xu hƣớng phát triển mạnh mẽ. Xuyên suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện về CTCP, pháp luật Việt Nam không đƣa ra định nghĩa cụ thể về CTCP mà chỉ quy định những dấu hiệu để nhận diện.
Cụ thể: - Theo Điều 2 LCT 1990, CTCP đƣợc coi là doanh nghiệp trong đó “các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương 9 ứng với phần vốn góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty”. - Theo Điều 51 LDN 1999, CTCP là doanh nghiệp trong đó: a) Vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; c) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác, trừ trƣờng hợp quy định tại khoản 3 Điều 55 và khoản 1 Điều 58 của Luật này; d) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lƣợng tối đa. - Theo Điều 77 LDN 2005, CTCP là doanh nghiệp trong đó: a) Vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lƣợng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác, trừ trƣờng hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này. - Theo Điều 110 LDN 2014, CTCP là doanh nghiệp trong đó: a) Vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lƣợng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác, trừ trƣờng hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này.
10 Theo Điều 111 LDN 2020, CTCP là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lƣợng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác, trừ trƣờng hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này. Khái quát chung, LDN tại Việt Nam từng thời kỳ đều không đƣa ra một khái niệm cụ thể mà chỉ liệt kê những dấu hiệu pháp lý để nhận diện CTCP, dù vậy các quy định này cũng đã xác định tƣ cách pháp lý tồn tại của CTCP theo pháp luật Việt Nam, giúp phân biệt loại hình CTCP với các loại hình doanh nghiệp khác. Có thể nhận thấy, CTCP theo pháp luật Việt Nam có những đặc điểm sau: Một là, vốn điều lệ của công ty đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. CTCP phải có cổ phần phổ thông, ngoài ra còn có thể có cổ phần ƣu đãi nhƣ: cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi khác theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật về chứng khoán.
Hai là, CTCP có tƣ cách pháp nhân kể từ khi đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Theo đó, CTCP có cơ cấu tổ chức, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của công ty; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập để xác lập các quyền và nghĩa vụ cho công ty. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty; nhƣ vậy, cổ đông của CTCP chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn 11 đối với các khoản nợ của công ty. CTCP với tƣ cách là một pháp nhân sẽ tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của công ty, cổ đông không phải chịu trách nhiệm thay CTCP về các khoản nợ của công ty.
Ba là, CTCP phải có t nhất ba cổ đông và không hạn chế số lƣợng tối đa. Đây là dấu hiệu phân biệt CTCP với các loại hình khác, cụ thể: Công ty TNHH một thành viên do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; Công ty TNHH Hai thành viên trở lên có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân; Công ty hợp danh phải có t nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty. Nhƣ vậy, về lý thuyết, mô hình CTCP không giới hạn số lƣợng cổ đông. Chẳng hạn, tại ĐHĐCĐ thƣờng niên năm 2022, tổng số cổ đông của Tổng công ty CP Vinaconex là 40.272 cổ đông; Công ty cổ phần Tập đoàn C.765 cổ đông; … Do có số lƣợng lớn cổ đông sở hữu, với t nh chất, quốc tịch khác nhau nên tiềm ẩn nhiều khó khăn trong quá trình thực thi, quản trị nội bộ; thậm ch có thể dẫn đến nhiều xung đột lợi ch giữa các nhóm cổ đông khác nhau.
Bốn là, CTCP có cơ chế huy động vốn, thanh khoản linh hoạt. Đây là đặc điểm quan trọng để thúc đẩy sự t ch lũy vốn, cổ đông trong CTCP. Theo đó, so với các mô hình khác, CTCP có thể huy động vốn linh hoạt thông qua việc phát hành cổ phiếu để chào bán ra đại chúng, cho cổ đông hiện hữu hay chào bán riêng lẻ; đồng thời bản thân cổ đông trong CTCP có khả năng chuyển nhƣợng cổ phần rất dễ dàng, ngoại trừ số t đặc thù đối với cổ đông sáng lập (trong 03 năm đầu khi thành lập công ty) và cổ phần ƣu đãi biểu quyết.