CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các vấn đề cơ bản về nguồn vốn của DN 1. Khái niệm Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ, để thực hiện bất kì hoạt động nào DN đều cần có vốn.Nói một cách khác, vốn là điều kiện không thể thiếu để tồn tại và phát triển của bất kì một DN nào trong điều kiện kinh tế thị trường.nhân tố đóng vai trò quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và quá trình phát triển của mỗi DN cũng như của toàn bộ nền kinh tế. Vậy “vốn” được hiểu là gì? Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, ngày càng có nhiều khái niệm về “vốn” được đưa ra dựa trên các quan điểm khác nhau: - Dưới góc độ hiện vật, các nhà kinh tế học trường phái cổ điển cho rằng, vốn là một trong những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh.
Định nghĩa này còn khá đơn giản, nhưng phù hợp với hoàn cảnh và trình độ quản lý tại thời điểm Bởi nền kinh tế cũng như kinh tế học lúc này còn đang trong quá trình hình thành bắt đầu phát triển. - Dưới góc độ các yếu tố sản xuất, Mark cho rằng tư bản (hay vốn) là giá trị đem lại giá trị thặng dư và là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Như vậy, vốn trong định nghĩa của Mark đã được khái quát hóa thành một phạm trù cơ bản. Khái niệm này có tính khái quát cao, tuy nhiện, ở mức độ hình thành và phát triển của nền kinh tế trong bối cảnh khi đó thì quan niệm của Mark cho rằng chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư.
- Theo trường phái “tân cổ điển”, Paul. Sammelson đã thừa kế quan niệm về các yếu tố đầu vào của trường phái cổ điển. Tuy nhiên, ông đã đi vào chi tiết hơn và phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh 9 thành ba nhóm yếu tố bao gồm: đất đai, lao động và vốn. Trong đó, vốn được định nghĩa là hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới và là đầu vào cho hoạt động sản xuất của một DN.
Theo đó, vốn trong quan niệm của Sammelson có thể được hiểu là các loại máy móc, vật tư thiết bị hay đất đai, nhà xưởng,.sử dụng trong quá trình sản xuất, chứ không đề cập đến tài sản tài chính hoặc các loại giấy tờ có giá trị có thể tạo ra lợi nhuận cho DN - Theo quan niệm của David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong cuốn “Kinh tế học”, vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo. Cụ thể hơn, David Begg đã đưa ra định nghĩa về hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hang, các giấy tờ có giá của DN.
Trong đó, đất đai không được coi là vốn. Dưới góc độ của nền kinh tế thị trường, vốn được xem như là một loại hàng hóa, thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định. Tuy nhiên, chủ thể sở hữu vốn có thể bán hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định. Khoản lợi ích thu được từ việc bán quyền sử dụng vốn được gọi là giá của vốn, hay lãi suất.
Do đó, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt bởi ở nó có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Chính nhờ đặc điểm đó mà vốn có thể dễ dàng luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh và tạo lợi nhuận của DN. Như vậy, có rất nhiều các quan niệm khác nhau về vốn đã được đề ra và tiếp cận dưới nhiều góc độ nghiên cứu, gắn với hoàn cảnh và đặc điểm của từng thời kì nhất định trong lịch sử. Song, dưới góc độ của DN có thể hiểu một cách khái quát “vốn là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu hoặc tích lũy được nhằm đáp ứng cho hoạt động kinh doanh của DN”.
Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động, mỗi DN cần huy động vốn từ các nguồn khác nhau, theo những phương pháp và hình thức huy 10 động khác nhau. Do đó, các cách thức để tạo vốn của DN được gọi là nguồn tài trợ, hay “nguồn vốn” của DN. Tùy thuộc hình thức pháp lý và nhu cầu sử dụng vốn mà DN có thể sử dụng các phương pháp và hình thức huy động vốn khác nhau. Chính vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản quản trị nguồn vốn, trước hết các DN cần tiến hành phân loại nguồn vốn theo các tiêu thức khác nhau, tùy thuộc mục tiêu quản lý và tác dụng của từng phương pháp.
Phân loại nguồn vốn Việc phân loại nguồn vốn có thể thực hiện theo nhiều phương pháp. Mỗi phương pháp được phân loại dựa theo một tiêu thức nhất định. Căn cứ vào quyền sở hữu vốn Theo tiêu thức này, nguồn vốn của DN được phân chia thành “vốn chủ sở hữu” và “ nợ phải trả ”. Trong đó: • Vốn chủ sở hữu Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của DN, bao gồm phần vốn góp của chủ sở hữu và phần vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại, hoặc các quỹ được hình thành từ lợi nhuận sau thuế của DN.
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu được hình thành theo các cách thức khác nhau: V Vốn góp ban đầu của chủ sở hữu Là số vốn nhất định do chủ sở hữu đóng góp khi DN thành lập. Tính chất và hình thức góp ban đầu phụ thuộc vào hình thức tổ chức pháp lý của DN. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, có 5 loại hình DN gồm: DN tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên và Công ty cổ phần. - DN tư nhân: Vốn góp ban đầu chính là số vốn do chính chủ tư nhân bỏ ra đầu tư khi thành lập DN.
Chính vì chỉ có một chủ sở hữu duy nhất nên số vốn góp của loại hình DN này thường bị hạn chế về quy mô so với các loại 11 hình DN khác. Ngoài ra, chủ DN tư nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của DN. - Công ty hợp danh: Đây là loại hình công ty có ít nhất từ hai thành viên hợp danh trở lên. Ngoài ra, còn có các thành viên góp vốn.
Do đó, vốn góp ban đầu của công ty bao gồm toàn bộ vốn góp của các thành viên hợp danh và thành viên góp vốn của công ty. Điều này chính là lợi thế của công ty hợp danh so với DN tư nhân bởi số vốn góp có được từ nhiều thành viên nên thường có lợi thế về quy mô. - Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Vốn góp của DN là số vốn do các thành viên góp vốn khi thành lập, bao gồm các thành viên là tổ chức, hoặc cá nhân (tối thiểu là hai thành viên và tối đa là 50) - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là công ty thuộc sở hữu của một tổ chức, hoặc một cá nhân. Do đó, vốn góp ban đầu chính là số vốn của tổ chức, hoặc cá nhân đầu tư vào công ty khi mới thành lập.
Tuy nhiên, khác với DN tư nhân ở chỗ chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trên số vốn mà tổ chức, hoặc cá nhân đóng góp vào công ty. - Công ty cổ phần: Số vốn góp ban đầu do các cổ đông đóng góp dưới hình thức góp vốn cổ phần. Các cổ đông là người sở hữu công ty chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn mà họ đóng góp. V Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia Là một phần của lợi nhuận sau thuế được DN giữ lại để tái đầu tư.
Với các loại hình DN khác nhau sẽ có cách thức phân phối lợi nhuận sau thuế khác nhau. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là nhà nước, việc phân phối lợi nhuận tuân thủ theo quy định của Nhà nước. Đối với Công ty cổ phần, phần lợi nhuận giữ lại tái đầu tư tùy thuộc chính sách phân chia lợi tức cổ phần của Công ty do Đại hội đồng cổ đông thông qua và được bởi Hội đồng quản trị của Công ty. 12 Việc sử dụng nguồn lợi nhuận không chia để tái đầu tu là hình thức tự tài trợ hay nguồn vốn tự bổ sung của DN.
Chính vì vậy, nguồn vốn này giúp tăng khả năng tự chủ về tài chính của DN, đồng nghĩa với việc giảm sự phụ thuộc của DN vào các nhân tố bên ngoài (ngân hàng, đối tác, .), góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của DN, tạo cơ hội cho DN mở rộng quy mô hoạt động, tăng khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn trong kỳ kinh doanh kế tiếp đồng thời giúp DN có vị thế tốt hơn khi tham gia vào các quan hệ tín dụng với các chủ nợ, ngân hàng, cổ đông,. Tuy nhiên, việc sử dụng một phần lợi nhuận để tái đầu tu quá nhiều sẽ ảnh huởng đến thu nhập của cổ đông và hình ảnh của DN và có thể khiến cho giá trị cổ phiếu DN trên thị truờng giảm. V Phát hành cổ phiếu mới Là việc DN phát hành chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của nguời sở hữu cổ phiếu đối với vốn của tổ chức phát hành. Tuy nhiên, việc huy động vốn từ phát hành cổ phiếu phải tuân thủ theo quy định của Pháp luật.
Bên cạnh đó, DN chỉ đuợc quyền phát hành một luợng cổ phiếu tối đa, gọi là vốn cổ phiếu đuợc cấp phép. Cổ phiếu phát hành không có thời gian đáo hạn, nguời nắm giữ cổ phiếu, tức cổ đông của DN đuợc trả cổ tức tuơng ứng với số cổ phần mà họ nắm giữ. Việc huy động vốn từ phát hành cổ phiếu mới sẽ tạo điều kiện cho DN huy động đuợc nguồn vốn với quy mô lớn và thời gian nhanh chóng. DN không chịu áp lực trả lãi nhu khi sử dụng vốn vay, thời gian hoàn tiền cũng dài hơn, có quyền lựa chọn phuơng thức và thời hạn thanh toán cổ tức cho cổ đông, thời hạn có thể là 6 tháng hoặc 1 năm, phuơng tiện thanh toán cổ tức có thể là tiền mặt hoặc cổ phiếu.