lời mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát lý thuyết quản trị nguồn nhân lực. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Điện toán và truyền số liệu. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Điện toán và truyền số liệu trong điều kiện Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1.
NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm, vai trò nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực Hiện nay, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng nhƣ mỗi doanh nghiệp. Đứng trên các giác độ khác nhau khi nghiên cứu nguồn nhân lực, các học giả đƣa ra các khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Nguồn nhân lực theo cách hiểu của các nhà kinh tế, là tổng thể những tiểm năng của con ngƣời (trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ có trong một thời kỳ nhất định (có thể tính cho 1 năm, 5 năm, 10 năm phù hợp với chiến lƣợc và kế hoạch phát triển).
Tiềm năng đó bao hàm tổng hoà năng lực và thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời đáp ứng một cơ cấu do nền kinh tế xã hội đòi hỏi (tức là cơ sở về số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu). Toàn bộ tiềm năng đó hình thành năng lực xã hội của con ngƣời (năng lực xã hội nguồn nhân lực). Nguồn lực xã hội của nguồn nhân lực có đƣợc thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ và nó không ngừng đƣợc tăng cƣờng, nâng cao trong quá trình sống và làm việc. Một số khái niệm khác về nguồn nhân lực: Theo Viện nghiên cứu và phát triển Kinh tế - Xã hội [14], Nguồn nhân lực hay nguồn lực lao động bao gồm số ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (trừ những ngƣời tàn tật, mất sức lao động loại nặng) và những ngƣời ngoài độ tuổi lao động nhƣng thực tế đang làm việc.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Đoàn Thị Thu Hà – Nguyễn Thị Ngọc Huyền [5, Tr.380], Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động. Theo Trần Kim Dung [3, Tr.2], Nguồn nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở các cá nhân với vai trò khác nhau và liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp ở bản chất của con ngƣời. Tóm lại, mặc dù nguồn nhân lực đƣợc nhìn từ các giác độ khác nhau, với những cách hiểu khác nhau, xong đều nhất trí với nhau đó là nguồn nhân lực nói lên khả năng lao động của xã hội.
Đó là nguồn lực quan trọng nhất, quý giá nhất, phong phú nhất và nhiều nhất so với các loại tài nguyên khác. Vai trò của nguồn nhân lực a) Vai trò đối với nền kinh tế Sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia cũng nhƣ mỗi doanh nghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác, quản lý và sử dụng hợp lý - hiệu quả các nguồn lực của đất nƣớc nhƣ tài nguyên thiên nhiên, trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ, nguồn vốn và tiềm lực về con ngƣời hay nguồn nhân lực… Giữa chúng có mối quan hệ nhân quả với nhau trong quá trình phát triển. Nhƣng trong đó, nguồn nhân lực đƣợc xem là năng lực nội sinh quan trọng, chi phối quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Mọi hoạt động sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đều do những hoạt động của con ngƣời tạo nên.
Họ phát minh sáng chế ra tƣ liệu lao động tác động vào đối tƣợng lao động nhằm tạo ra của cải phục vụ cho con ngƣời và xã hội. Nguồn lực con ngƣời chính là nguồn “nội lực”, nếu biết khai thác và phát huy tốt, nó có thể nhân lên sức mạnh của các nguồn lực khác. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thực tế công cuộc đổi mới của nƣớc ta trong những năm qua cho thấy Đảng và nhà nƣớc ta có chủ trƣơng, chính sách và các biện pháp thiết thực quan tâm, phát huy nhân tố con ngƣời, giải phóng mọi nguồn lực và tiềm năng sáng tạo, đem lại những thành công bƣớc đầu rất quan trọng cả về kinh tế và xã hội, đƣa đất nƣớc vƣơn lên tầm cao mới của sự phát triển. Nhận thức đƣợc vai trò tất yếu khách quan của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế của đất nƣớc theo hƣớng Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, Nghị quyết TW 7 ( Khoá VII) của Đảng đã nêu: “Việc phát triển nguồn nhân lực là quan trọng và ƣu tiên hàng đầu trong các chính sách và biện pháp nhằm thực hiện quá trình “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc”.
Nhƣ vậy, nguồn nhân lực là yếu tố của sự phát triển và mục tiêu cuối cùng của sự phát triển là phục vụ ngày càng tốt hơn con ngƣời, nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho con ngƣời. Con ngƣời vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc. b) Vai trò đối với các doanh nghiệp Trong một doanh nghiệp, vai trò phát triển nguồn nhân lực đƣợc đánh giá quan trọng ngang với các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh nhƣ: Marketing, tài chính, nghiên cứu phát triển,… Nguồn nhân lực đƣợc coi là một yếu tố cơ bản trong quá trình thực hiện các chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. Chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực đƣợc xây dựng nhằm đáp ứng các yêu cầu của mục tiêu, chiến lƣợc kinh doanh của toàn doanh nghiệp.
Chiến lƣợc kinh doanh và chính sách phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đƣợc phát triển trong mối tác động qua lại lẫn nhau. Nguồn nhân lực đƣợc coi là một lợi thế cạnh tranh then chốt của doanh nghiệp, không đơn thuần chỉ là phƣơng tiện để thực hiện các chiến lƣợc kinh doanh, mà nguồn nhân lực còn trở thành động lực chủ yếu để hình thành các chiến lƣợc, chính sách kinh doanh của doanh nghiệp. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các đặc trƣng cơ bản của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của công ty, tổ chức (nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ, nguồn lực vật chất…) ở chỗ: Nguồn nhân lực của công ty, tổ chức đƣợc đặc trƣng bởi các yếu tố cơ bản phân biệt với các nguồn lực khác.
Số lƣợng nguồn nhân lực Theo Đoàn Thị Thu Hà – Nguyễn Thị Ngọc Huyền [5, Tr.381], Số lƣợng nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ gia tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng cao và ngƣợc lại. Tuy nhiên mối quan hệ giữa dân số và nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện sau một thời gian nhất định (Vì đến lúc đó con ngƣời mới phát triển đầy đủ, mới có khả năng lao động).
Xét trong phạm vi một tổ chức thì số lƣợng nguồn nhân lực là tổng số ngƣời đƣợc tổ chức thuê mƣớn, đƣợc trả công và đƣợc ghi vào danh sách nhân sự của tổ chức. Xét trong phạm vi quốc gia thì số lƣợng nguồn nhân lực hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những ngƣời đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và đang có việc làm hoặc không có việc làm nhƣng có nhu cầu làm việc. Giữa các quốc gia khác nhau có sự quy định về độ tuổi lao động khác nhau. Ở nƣớc ta quy định tuổi lao động là từ 15 đến 60 đối với nam và từ 15 đến 55 đối với nữ.
Với tốc độ tăng dân số bình quân khoảng 1,38%, hàng năm nƣớc ta có thêm từ 1,2 đến 1,4 triệu lao động mới bổ sung vào nguồn nhân lực của đất nƣớc. Đây là nguồn lực quan trọng có tiềm năng rất lớn, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc trong giai đoạn mới. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chất lƣợng nguồn nhân lực Theo Đoàn Thị Thu Hà – Nguyễn Thị Ngọc Huyền [6, Tr.379], Chất lƣợng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực trong tổ chức, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Chất lƣợng của nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện thông qua một số yếu tố chủ yếu nhƣ trạng thái sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật (kỹ năng) của nguồn nhân lực.
a) Thể lực nguồn nhân lực Một trong những tiêu chí nói lên chất lƣợng nguồn nhân lực là tình trạng thể lực của ngƣời lao động, bao gồm các yếu tố nhƣ chiều cao, cân nặng, sức khoẻ. Các yếu tố này phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện nhƣ: mức sống, thu nhập, nghỉ ngơi, chăm sóc y tế và các dịch vụ khác… b) Trình độ học vấn của nguồn nhân lực Chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực là trình độ văn hoá nói chung và trình độ chuyên môn nghiệp vụ nói riêng. Trình độ văn hóa là nền tảng cho việc tiếp thu các kiến thức khoa học kỹ thuật, đào tạo và tái đào tạo nghề nghiệp. Công tác giáo dục và đào tạo đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao trình độ dân trí và trình độ học vấn cho ngƣời lao động.
c) Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người lao động Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là trình độ hiểu biết, khả năng vận dụng, áp dụng KHKT tiến bộ về một số chuyên môn nào đó vào hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho tổ chức đó. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của ngƣời lao động đƣợc thể hiện thông qua cơ cấu lao động đƣợc đào tạo ở các cấp bậc khác nhau. Cơ cấu nguồn nhân lực 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cơ cấu cấp bậc nguồn nhân lực: bao gồm số lƣợng nhân lực đƣợc phân chia từ cấp cao đến cấp thấp và đến nhân viên, ngƣời lao động trong tổ chức.