LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Là một doanh nghiệp của Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực đặc thù riêng gắn liền với sự phát triển của kinh tế xã hội, ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế còn có ý nghĩa lớn về mặt xã hội, Công ty TNHH Một thành viên Xổ số Kiến thiết Thủ Đô đã từng bước hình thành và phát triển cùng với sự hội nhập của đất nước. Hàng năm thu nộp hàng trăm tỉ đồng vào Ngân sách Nhà nước mang lại lợi ích cho xã hội thông qua việc phát hành xổ số kiến thiết. Mỗi tờ vé số không chỉ mang lại lợi ích cho người mua nếu trúng thưởng mà còn có những đóng góp không nhỏ cho những công trình phúc lợi, nhà tình nghĩa, trường học, bệnh viện, nhà trẻ… phục vụ quần chúng nhân dân lao động.
Đúng với mục tiêu “ích nước, lợi nhà” mà Chính phủ đề ra. Hiện nay, Công ty đang có 11 loại hình xổ số với các tên gọi khác nhau như: Vé XSTT, vé cào, bóc, vé lô-tô, điện toán (Xổ số thần tài, xổ số 6x36, xổ số tự chọn 5 số, lô tô 2 số, 3 số). Với mỗi vé số, ai cũng hy vọng có cơ may trúng được số tiền lớn sau khi chỉ bỏ ra một khoản tiền nhỏ, đối với người nghèo là ước mong được đổi đời, người khá giả thì hy vọng được giàu thêm. Đó là lý do xổ số ngày càng phổ biến, phát triển dưới nhiều hình thức và trở thành một hoạt động phong phú, đa dạng.
Tuy nhiên kinh doanh xổ số là 1 loại hình kinh doanh đặc thù riêng, không giống với các loại hình kinh doanh các sản phẩm khác trên thị trường, không được phép phát triển quá nhanh, quá nóng để đảm bảo trật tự và an toàn cho xã hội. Việc xây dựng mạng lưới kênh phân phối phải tuân thủ nghiêm ngặt những nội quy, quy định của Chính Phủ và Bộ Tài Chính là việc quan trọng và cần thiết trong thời gian này. Nhất là khi Công ty điện toán Việt Nam (Vietlott) vừa ra đời đã xâm chiếm thị trường một cách nhanh chóng. Hiện nay kênh phân phối chính là chiếc “cầu nối” giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất, đưa sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng [6,7].
Vì thế, kênh phân phối tạo nên lợi thế cạnh tranh phân biệt giữa các doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường ngoài việc cạnh tranh về giá, xúc tiến bán hàng thì cạnh tranh thông qua hệ 2 thống kênh phân phối là một trong những phương thức rất quan trọng. Trong thời gian gần đây, việc xuất hiện đối thủ cạnh tranh đã khiến cho công ty bị giảm thị phần, số lượng người chơi tụt giảm thể hiện ở doanh số và mức tăng trưởng của Công ty không tăng hoặc tăng với mức thấp (dưới 10%), không những thế sự gắn kết giữa các đại lý và công ty ngày càng lỏng lẻo đã gây nên tình trạng “ra đi” của nhiều đại lý cấp 1, cấp 2. Từ đó tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Quản trị kênh phân phối vé xổ số truyền thống tại Công ty TNHH Một thành viên Xổ số kiến thiết Thủ Đô” làm luận văn thạc sĩ.
Mục đích nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kênh phân phối và quản trị kênh phân phối - Phân tích những mặt đã làm được và chưa làm được của kênh phân phối vé XSTT của Công ty TNHH MTV XSKT Thủ Đô trong giai đoạn 2012-2016. - Đưa ra các giải pháp tối ưu để cải tiến việc quản trị kênh phân phối vé XSTT của Công ty TNHH MTV XSKT Thủ Đô đến năm 2020. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu * Đối tượng: Quản trị kênh phân phối vé XSTT của Công ty TNHH MTV XSKT Thủ Đô. * Phạm vi nghiên cứu: - Về không gian: Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết thủ đô.
- Về thời gian: số liệu được thu thập và phân tích tập trong 5 năm giai đoạn 2012-2016, sau đó đề xuất phương hướng đến năm 2020. - Về nội dung: Luận văn nghiên cứu nhằm hoàn thiện một số quá trình quản trị KPP vé XSTT nói riêng cũng như phân phối vé XSKT nói chung, tuy nhiên vì số lượng đại lý của Công ty là rất lớn, lại phân chia theo các khu vực khác nhau, theo các loại hình xổ số khác nhau nên luận văn sẽ chỉ tập trung phân tích kênh phân phối dành cho XSTT. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau như: 3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: các dữ liệu được lấy từ các phòng ban chức năng của Công ty, các báo cáo hàng năm của Phòng tài vụ, phòng kinh doanh và một số thông tin được lấy từ các tài liệu sách báo, các tạp chí liên quan đến hoạt động marketing. Phương pháp điều tra khảo sát: trong nghiên cứu tác giả đã sử dụng bảng hỏi để khảo sát trên 3 đối tượng: các đại lý, khách hàng, nhân viên trong công ty (quy mô mẫu n=200) Số liệu thứ cấp: các báo cáo hàng năm của phòng tài vụ, phòng kinh doanh tại Công ty TNHH MTV XSKT Thủ đô.
Ngoài ra, một số thông tin trong bài còn được Ngoài ra tác giả còn sử dụng rất nhiều các phương pháp như phân tích, so sánh, tổng hợp, dự báo nhằm khái quát lý luận, liên hệ thực tiễn, từ đó so sánh để đánh giá và đề xuất một số giải pháp. Kết cấu luận văn Ngoài những phần mở đầu, mục lục, kết luận, các bảng biểu, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của luận văn được kết cấu gồm: Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu Chương 2: Những cơ sở lý luận cơ bản về quản trị kênh phân phối của Doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng quản trị kênh phân phối vé XSTT của công ty TNHH MTV xổ số kiến thiết Thủ Đô. Chương 4 :Một số giải pháp hoàn thiện quản trị kênh phân phối vé XSTT của công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Thủ Đô 4 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Hoạt động tiêu thụ là một trong 6 chức năng quản trị quan trọng của tất cả các doanh nghiệp. Đó là tổ chức và quản lý mạng lưới kênh phân phối của doanh nghiệp trên thị trường.
Các kênh phân phối hoạt động có tốt, tạo nên doanh thu cao sẽ giúp tăng nguồn ngân sách cho Nhà nước, đồng thời giúp phát triển các loại hình xổ số, đẩy lùi được các tệ nạn lô đề, cờ bạc bất hợp pháp. Tại Việt Nam, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kênh phân phối trên các lĩnh vực khác nhau như: 1. Nguyễn Kim Sơn, 2015 với đề tài “Hoàn thiện kênh phân phối tại Công ty Cổ phần Sơn tổng hợp Hà Nội”, luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý của trường Đại học KTQD. Tác giả đã trình bày rõ và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về KPP, quản lý kênh.
Tuy nhiên mục 2.1 tác giả sa đà vào trình bày và đánh giá chiến lược Marketing mà chưa tập trung phân tích thực trạng mạng lưới kênh tiêu thụ và các luồng trong kênh như thế nào. Luận văn sẽ chặt chẽ hơn và thuyết phục hơn nếu tác giả nêu rõ đặc thù của lĩnh vực sơn và những lưu ý khi quản lý KPP 2. Bùi Viết Phong, 2015 với đề tài: “Quản trị kênh phân phối sản phẩm rượu Vodka AKVADID nhập khẩu của Công ty TNHH kinh doanh thương mại và XNK HAPACO Hà Nội”, luận văn thạc sĩ kinh doanh quản lý trường KTQD. Tác giả đã đề xuất được những quan điểm riêng về định hướng quản trị kênh phân phối cho thời gian tới, những tồn tại và hạn chế trong việc phân phối sản phẩm Vodka nhập khẩu HAPACO cũng được tác giả tổng hợp, đánh giá, phân tích nguyên nhân.
Tuy nhiên tác giả chưa đưa ra được phương pháp hay công cụ tiêu chí để đánh giá quản trị KPP của Doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng. Trần Sơn Lĩnh, 2014 với đề tài: "Hoàn thiện kênh phân phối sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Dược Hậu Giang - Chi nhánh Đắk Lắk" luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh của trường KTQD, đã nghiên cứu thực trạng KPP của công ty Dược 5 Hậu Giang chi nhánh Đắc lắc từ năm 2011-2013 và tác giả đã đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện KPP của Chi nhánh như: - Hoàn thiện công tác quản lý kênh. - Hoàn thiện dịch vụ vận chuyển cho khách hàng đối với khối lượng cung ứng khác nhau. - Nâng cao chất lượng nguồn lao động tại Chi nhánh.
Nguyễn Thị Ngọc Minh, 2014, đề tài: “Quản trị kênh phân phối sản phẩm thủy tinh gia dụng nhập khẩu của Công ty cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu lâm sản Naforimex Hà Nội”. Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh, luận văn đã làm về việc xây dựng chiến lược kênh phân phối: công tác xây dựng chiến lược chưa thực sự được thực hiện tốt. Cụ thể, công ty chưa xác định được vai trò của phân phối trong chiến lược tổng thể của công ty cũng như trong chiến lược Marketing – mix, chưa nêu rõ KPP sẽ được xây dựng như thế nào. Lương Quỳnh Trang, 2014 với đề tài, “Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối tại Công ty TNHH Phú Cát”, luận văn thạc sĩ trường Đại học Kinh tế quốc dân.
Luận văn gồm 4 Chương, 88 trang, 3 sơ đồ, 4 biểu đồ và 12 bảng biểu, 20 tài liệu tham khảo. Luận văn đã đưa ra các giải pháp sát với thực tế của Doanh nghiệp như: Xây dựng công tác lựa chọn, theo dõi, đánh giá thành viên kênh do công tác lựa chọn trước đó còn thụ động. Đại lý và các cửa hàng có thể bán tập trung mà không cạnh tranh lẫn nhau. Công ty không chỉ duy trì, củng cố KPP gián tiếp mà còn cần phải phát triển KPP trực tiếp để bán hàng nhiều hơn.
Lương Lan Anh, 2014, với đề tài: “Hoàn thiện công tác quản trị kênh phân phối sản phẩm tại Công ty TNHH Paldo Vina” trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2009 - 2014, luận văn thạc sĩ trường Đại học KTQD. Đã nêu được thực trạng của kênh phân phối mỳ ăn liền và các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị KPP của công ty tuy nhiên chuyên đề vẫn chưa có các giải pháp triệt để. Khuất Thị Phương, 2013, với đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối thuốc tân dược tại Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Song Sơn” luận văn bảo vệ tại Trường đại học KTQD.