CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ KÊNH PHÂN PHỐI 1. TỔNG QUAN VỀ KÊNH PHÂN PHỐI 1. Khái niệm kênh phân phối Có rất nhiều khái niệm về hệ thống kênh phân phối. Tuỳ theo những góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về kênh phân phối.
Xét ở tầm vĩ mô, kênh phân phối được coi là con đường vận động của hàng hoá và dịch vụ từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Dưới góc độ của người tiêu dùng, kênh phân phối là tập hợp những trung gian nên họ phải mua sản phẩm với giá cao hơn giá của người sản xuất. Còn đối với người sản xuất, người muốn tổ chức hệ thống kênh phân phối là sự tổ chức các quan hệ bên ngoài (chuyển quyền sở hữu, đàm phán…), nhằm thực hiện hoạt động phân phối sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp theo cách thức, chính sách của doanh nghiệp đặt ra. Xét dưới góc độ quản lý, kênh phân phối được xem như là một nhóm biện pháp marketing quan trọng và là một trong những lĩnh vực quyết định quan trọng và phức tạp.
Ở góc độ này kênh phân phối là “một tổ chức hệ thống các quan hệ với các doanh nghiệp và cá nhân bên ngoài để quản lý các hoạt động phân phối tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện các mục tiêu trên thị trường của doanh nghiệp " [2, tr. Vai trò của kênh phân phối Theo Philip Kotler & Gary Armstrong, 2004, vai trò của kênh phân phối có thể kể đến như sau: Gia tăng hiệu quả giao dịch: Với sự hiện hữu của kênh phân phối, nhà sản xuất tiết kiệm thời gian và chi phí nhờ giảm thiểu số lượng tiếp xúc trực 9 tiếp với khách hàng. Gia tăng hiệu quả cung ứng sản phẩm: Kênh phân phối rộng khắp thể hiện sức cạnh tranh và mức độ bao phủ thị trường của doanh nghiệp. Thông qua các trung gian trong kênh phân phối, hàng hóa được lưu thông nhanh hơn, thay đổi linh hoạt hơn để kịp thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Thỏa mãn nhu cầu và chủng loại hàng hóa cho khách hàng: Nhà sản xuất thường muốn bán một số lượng lớn sản phẩm hơn là giải quyết những đơn hàng đơn lẻ của khách hàng. Người tiêu dùng lại thích có nhiều nhãn hiệu, màu sắc, kích cỡ, bao bì,… để lựa chọn. Chức năng của kênh phân phối Các nhà sản xuất, các trung gian (nhà bán sỉ, bán lẻ, đại lý) cũng như các thành viên khác trong kênh phân phối tồn tại theo một cấu trúc nhất định nhằm thực hiện một số chức năng chủ yếu sau: Thông tin, giới thiệu: Quá trình phân phối thu thập thông tin về khách hàng tiềm năng và khách hàng hiện có, thông tin về đối thủ cạnh tranh,… Truyền đạt thông tin từ nhà sản xuất đến các trung gian và khách hàng. Kích thích tiêu thụ: Thực hiện hoạt động quảng bá các thông tin về hàng hóa và các chương trình khuyến khích tiêu thụ đến với khách hàng và trung gian.
Tiếp xúc, thiết lập mối quan hệ: Doanh nghiệp phải xác định ai là người mua hàng ở các giai đoạn khác nhau trong kênh. Thông báo cho khách hàng biết các thông tin và thiết lập mối quan hệ thương mại với các trung gian trong kênh. Thích ứng, hoàn thiện sản phẩm: Các thành viên của kênh thực hiện các hoạt động nhằm gia tăng hiệu quả của quá trình trao đổi, tăng tính thích ứng và hoàn thiện sản phẩm. Thương lượng: Thông qua việc thực hiện các thỏa thuận, đàm phán liên 10 quan đến giá cả và các điều kiện bán hàng, doanh nghiệp thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa và dịch vụ đến các trung gian trong kênh phân phối.
Lưu thông hàng hóa: Thông qua hoạt động vận chuyển, bảo quản và lưu kho hàng hóa, làm cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, điều hòa cung cấp hàng hóa dịch vụ. Tài chính, trang trải chi phí: Thông qua hoạt động bán hàng thu tiền, doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài chính trang trải cho các hoạt động sản xuất và hoạt động của kênh phân phối. Chấp nhận rủi ro: Các trung gian phải chấp nhận những rủi ro có thể gặp phải do một số nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan như: sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng, sản phẩm bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển/lưu kho. Các dòng lưu chuyển trong kênh phân phối Kênh phân phối hoạt động thông qua các dòng vận động (dòng chảy).
Các dòng này kết nối với các thành viên kênh với nhau. Các dòng chảy chủ yếu bao gồm: - Dòng vận động vật chất của sản phẩm: Là dòng di chuyển hàng hóa vật chất thật sự trong không gian và thời gian từ địa điểm sản xuất đến địa điểm tiêu dùng thông qua hệ thống kênh phân phối. - Dòng đàm phán: Là quá trình vận động thương lượng hai chiều liên quan đến sự trao đổi song phương giữa người mua và người bán ở tất cả các cấp độ của kênh phân phối. - Dòng chuyển quyền sở hữu: Là sự chuyển quyền sở hữu sản phẩm từ thành viên này sang thành viên khác trong kênh.
- Dòng thông tin: Là quá trình các bộ phận trong kênh phân phối trao đổi thông tin với nhau ở các giai đoạn của tiến trình đưa sản phẩm từ nơi sản 11 xuất đến người tiêu dùng. - Dòng chảy xúc tiến: Là những hoạt động xúc tiến hỗn hợp hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong kênh phân phối. - Dòng thanh toán: Là quá trình vận động của tiền tệ và các chứng từ thanh toán ngược từ người tiêu dùng cuối cùng qua các trung gian thương mại trở lại người sản xuất. - Dòng đặt hàng: Là phương thức và cơ chế thu thập, tập hợp và xử lý đơn hàng giữa các thành viên.
- Dòng chia sẻ rủi ro: Là cơ chế phân chia trách nhiệm gánh vác những thiệt hại do rủi ro của từng thành viên. - Dòng tài chính: Là cơ chế tạo vốn và hỗn hợp vốn cho các thành viên trong kênh phân phối, giúp cho họ có được nguồn thanh toán dễ dàng và nhanh chóng. - Dòng thu hồi, tái sử dụng lại bao gói: Là quá trình phân chia và tái sử dụng bao gói giữa các sản phẩm lưu chuyển qua các trung gian phân phối đảm bảo tiết kiệm chi phí. 12 Các Dòng sở hữu Các Dòng sở hữu Các Dòng sở hữu Người Dòng vật chất Dòng vật chất Dòng vật chất tiêu Dòng thông tin Dòng thông tin Dòng thông tin dùng nhà Dòng xúc tiến nhà Dòng xúc tiến nhà Dòng xúc tiến Dòng đàm phán Dòng đàm phán Dòng đàm phán cá Dòng tài chính Dòng tài chính Dòng tài chính nhân sản Dòng rủi ro bán Dòng rủi ro bán Dòng rủi ro và Dòng đặt hàng Dòng đặt hàng Dòng đặt hàng Dòng thanh toán Dòng thanh toán Dòng thanh toán công xuất Dòng tái sử dụng buôn Dòng tái sử dụng lẻ Dòng tái sử dụng nghiệp Hình 1.
Sơ đồ các dòng chảy trong kênh phân phối [7, tr. CẤU TRÚC VÀ TỔ CHỨC KÊNH PHÂN PHỐI 1. Cấu trúc kênh phân phối Cấu trúc kênh phân phối được hiểu là việc thiết lập một tổ chức các thành viên của kênh nhằm thực hiện các chức năng phân phối. Cấu trúc kênh quyết định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nên mục tiêu trong quản lý kênh phân phối là phải lựa chọn cấu trúc kênh phân phối phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu phân phối hàng hóa tối ưu.
Cấu trúc kênh phân phối được xác định bởi ba yếu tố cơ bản: Chiều dài kênh, Chiều rộng kênh, Các trung gian tham gia vào kênh phân phối. Chiều dài kênh phân phối Được xác định bởi cấp độ trung gian có mặt trong kênh. Khi cấp độ trung gian tăng lên, kênh được xem như tăng về chiều dài. 13 Nhà sản xuất (4) (3) (2) (1) Tổng đại lý Người bán buôn Người bán lẻ Người tiêu dùng cuối cùng Hình 1.
Sơ đồ cấu trúc kênh phân phối - Kênh (1) – Kênh phân phối trực tiếp: Nhà sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng không qua trung gian. Những hình thức bán hàng trực tiếp gồm: bán hàng lưu động, bán hàng qua các đại lý cấp 2 bán lẻ của nhà sản xuất. Kênh trực tiếp có ưu điểm giúp nhà sản xuất nắm bắt kịp thời thông tin thị trường và yêu cầu của khách hàng, có thể giảm chi phí để hạ giá bán và tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, nó không thực hiện được nhiệm vụ chuyên môn hóa vì nhà sản xuất phải dàn trải lực lượng và làm vốn chậm luân chuyển.
Do đó, kênh trực tiếp chỉ sử dụng hạn chế trong một số trường hợp như; hàng hóa có tính chất đặc biệt, hàng hóa xa xỉ,… - Kênh (2) – Kênh rút gọn: Nhà sản xuất bán hàng qua một trung gian (nhà bán lẻ) để họ bán lại cho người tiêu dùng. Ưu điểm của kênh này là giải phóng được chức năng lưu thông, giúp nhà sản xuất nâng cao được trình độ chuyên môn hóa và tập trung cho năng lực sản xuất. - Kênh (3) – Kênh đầy đủ: Kênh có hai cấp trung gian cùng tham gia là nhà bán buôn và nhà bán lẻ. Kênh này thường sử dụng đối với những hàng hóa có số lượng lớn, thị trường tiêu thụ rộng.
Việc sử dụng kênh này tạo điều kiện cho nhà sản xuất tập trung cao khả năng chuyên môn hóa sản xuất, rút ngắn chu kỳ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, chi phí để duy trì hoạt 14 động của toàn kênh cao gắn với rủi ro của kênh lớn. - Kênh (4) – Kênh đặc biệt: Nằm giữa các nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ còn có thêm các trung gian đặc biệt như đại lý, nhà môi giới. Đối với một số loại sản phẩm hay một số nhà sản xuất, việc sử dụng kênh đặc biệt trở nên rất quan trọng.
Vì các đại lý bên ngoài thường đông hơn lực lượng bán hàng của nhà sản xuất, họ am hiểu về thị trường hơn nên có thể bao quát được thị trường hơn. Chiều rộng kênh phân phối Chiều rộng kênh phân phối là số lượng các trung gian ở mỗi cấp của kênh. Có 3 phương thức phân phối theo chiều rộng: - Phân phối rộng rãi: Theo quan điểm của chính sách này thì không hạn chế số lượng trung gian tiêu thụ, miễn sao các trung gian tiêu thụ có đủ các điều kiện cần thiết theo yêu cầu của doanh nghiệp sản xuất và sẵn sàng thực hiện cam kết giữa các bên đưa ra. Đây là chiến lược có mức độ bao phủ lớn nhất, theo đó sản phẩm hay dịch vụ được bán thông qua nhiều điểm bán.