phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Học viên xây dựng luận văn gồm 3 Chƣơng. 9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TRONG TỔ CHỨC 1. Các khái niệm cơ bản: quản trị, công chức, đội ngũ công chức, quản trị đội ngũ công chức trong tổ chức 1. Khái niệm, nội dung, chức năng quản trị nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm quản trị Theo thuật ngữ tiếng Anh thì Quản trị nói chung là "Management" vừa mang nghĩa là quản lý, vừa có nghĩa hiểu là quản trị, tuy nhiên hiện nay thuật ngữ này đƣợc dùng chủ yếu với nghĩa là quản trị.
Khi dùng từ, thƣờng thì chúng ta hiểu thuật ngữ quản lý chính là quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội, và là quản lý ở tầm vĩ mô. Trên cơ sở đó thuật ngữ quản trị thƣờng dùng trong phạm vi nhỏ hơn đối với một đơn vị. Một khái niệm đƣợc nêu ra cũng góp phần thể hiện rõ nét về quản trị của tác giả James Stoner và Stephen Robbins nhƣ sau: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [27, tr. Từ “tiến trình ” trong có thể hiểu rằng là các nhiệm vụ đƣợc hoạch định, đƣợc tổ chức, lãnh đạo và có sự kiểm soát theo một trình tự nhất định.
Định nghĩa nêu trên cũng phân tích ra rằng tất cả những quản trị viên đều thực hiện các hoạt động quản trị nhằm hƣớng đến mục tiêu nhƣ mong đợi. Quản trị là các hoạt động đƣợc thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của những ngƣời khác; ―quản trị là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những ngƣời cộng sự khác cùng chung một tổ chức; Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tƣợng quản trị nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra trong một môi trƣờng luôn luôn biến động‖ [29, tr. Trong tiếng Anh thì quản trị nói chung đƣợc gọi là "Management" vừa có nghĩa là quản trị, cũng có nghĩa là quản lý, theo xu thế hiện nay thì thƣờng sử dụng chủ yếu với nghĩa là quản trị. Theo thói quen khi sử dụng thì mọi ngƣời thƣờng dùng từ ngữ là quản lý xã hội, quản lý 10 nhà nƣớc và thƣờng đƣợc gắn với thuật ngữ quản lý, tức là quản lý ở tầm vĩ mô.
Trong trƣờng hợp ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp ngƣời ta thƣờng dùng thuật ngữ quản trị. Trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam có khá nhiều quan niệm về quản trị: Một định nghĩa giải thích đƣợc James Stoner và Stephen Robbins chỉ ra tƣơng đối rõ nét về quản trị cụ thể là: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [27, tr. Khái niệm trên cũng có cho thấy rằng các hoạt động quản trị đều đƣợc những nhà quản trị sử dụng thực hiện nhằm đạt đƣợc mục tiêu, kết quả mong muốn. Từ “tiến trình” trong khái niệm này nói lên rằng các tổ chức, lãnh đạo, công việc hoạch định và kiểm soát cần phải đƣợc thực hiện theo một quy trình và trình tự nhất định.
Quản trị cũng đƣợc hiểu là sự nỗ lực của tập thể khi thực hiện các hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc; “quản trị là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức; Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong một môi trường luôn luôn biến động” [29, tr. Theo quan điểm của tác giả, quản trị là quá trình tác động của chủ thể quản trị lên đối tƣợng quản trị để thực hiện các kế hoạch, mục tiêu đã để ra thông qua các hoạt động gồm có: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát, đánh giá, phân loại các đối tƣợng quản trị từ đó chủ thể có thể kết luận đƣợc các biện pháp thúc đẩy kiện toàn hay khắc phục những hạn chế trong chuỗi các hoạt động trên để nhằm đạt đƣợc mục tiêu cao nhất đã đề ra. Quản trị còn đƣợc hiểu là quá trình tổ chức, điều khiển, hoạch định và kiểm soát công việc cùng với những nỗ lực của tập thể con ngƣời, và cũng là sự áp dụng một cách có triệt để mọi tài nguyên, nhằm hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đã xây dựng. Quản trị nguồn nhân lực cũng đƣợc coi là quá trình tuyển dụng, duy trì và phát triển, sử dụng và cũng nhƣ cung cấp các thành tố quan trọng nhất trong các tổ chức cho ngƣời lao động.
Hiện nay với các tƣ tƣởng tiến bộ nhƣ: chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa 11 hiện thực, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa kiến tạo… thì các nhà nghiên cứu về an ninh và an ninh phi truyền thống thấy rằng xu hƣớng nghiên cứu này đang đƣợc phát triển mạnh trên nền tảng các tƣ tƣởng. Có những cách tiếp cận mới là lấy con ngƣời làm trung tâm để phát triển các nghiên cứu về an ninh phi truyền thống, thì việc sử dụng cách tiếp cận truyền thống lấy nhà nƣớc làm trung tâm cũng đƣợc nhiều nhà khoa học đang sử dụng trong đó nhấn mạnh các vấn đề an ninh phi truyền thống đe dọa trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của cả con ngƣời (các cá nhân, nhóm dân cƣ, cộng đồng, tổ chức, doanh nghiệp…) và nhà nƣớc. Trong tình hình biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu nhƣ: an ninh kinh tế gắn với an ninh doanh nghiệp; an ninh doanh nghiệp gắn với an ninh con ngƣời; an ninh con ngƣời và sức khỏe; an ninh lƣơng thực; an ninh môi trƣờng; an ninh năng lƣợng; an ninh văn hóa và giáo dục; an ninh mạng và an ninh thông tin… 1. Khái niệm, nội dung, chức năng chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực Từ trƣớc tới nay, khái niệm nguồn nhân lực có rất nhiều và cũng có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau, tác giả qua đó đã dựa trên quan điểm của chuyên ngành quản trị học để phân tích trong phạm nghiên cứu của Luận văn.
Nguồn nhân lực đƣợc hiểu là: ―Toàn thể hệ thống các thành viên gồm các cá nhân và tổ chức tại thời điểm hiện tại hoặc trong một giai đoạn nghiên cứu nhất định (từ quá khứ xác định đến hiện tại, hoặc từ hiện tại đến tƣơng lai xác định.) trong một đơn vị (cơ quan/tổ chức/doanh nghiệp), không giới hạn bởi tính chất công việc, chức danh, tuổi tác. hoặc các vấn đề chính thức hay không chính thức chức tại đơn vị đó‖ [32, Tr. Những yếu tố quan trọng nhất của nguồn nhân lực bao gồm: Chất lƣợng (kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, chất lƣợng cao hay thấp), số lƣợng (đông đảo hay thiếu hụt), sự phối kết hợp giữa các thành viên trong đơn vị đó. Có thể hiểu rằng: Hoạt động quản trị nguồn nhân lực bao gồm tất cả các vấn đề về trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của ngƣời lao động nhằm đạt đƣợc hiệu quả tối ƣu cho cả tổ chức.
Trong thực tiễn, nhiều nội dung trong lĩnh vực này có hoạt động này phong phú, đa dạng và rất khác nhau phụ thuộc vào các đặc điểm về nhân lực, tài chính, cơ cấu tổ chức, công nghệ kỹ thuật, trình độ phát triển của các tổ chức. Quản trị nguồn nhân lực bao gồm các nội dung cơ bản của các hoạt động 12 nhƣ: lập kế hoạch tuyển dụng, bố trí, sử dụng, hoạch định, quy hoạch nguồn nhân lực, đào tạo- bồi dƣỡng, thi đua- khen thƣởng, kỷ luật, trả công lao động. Và tựu trung lại có thể hiểu Quản trị nguồn nhân lực là tất cả những hoạt động liên quan đến việc quản lý nhân sự và có ảnh hƣởng đến mối quan hệ giữa toàn thể ngƣời lao động với tổ chức. Cụ thể hơn đó là các công việc hoạch định, triển khai, kiểm soát kế hoạch nhằm sử dụng nguồn lực của tổ chức một cách hiệu quả nhất, đem lại kết quả tối ƣu.
Ngoài ra cũng bao gồm việc giải quyết các vấn đề về đào tạo, phúc lợi, lƣơng thƣởng nhằm tạo động lực cho nhân viên. Kết quả thực hiện nhiệm vụ theo Kế hoạch, mục tiêu của tổ chức thì Quản trị nguồn nhân lực là một trong những yếu tố đóng vai trò rất quan trọng, gần nhƣ quyết định vào kết quả khi thực hiện các mục tiêu đề ra. Mục tiêu của quản trị nhân sự: quản lý tốt đội ngũ nhân viên của tổ chức, đảm bảo từng ngƣời, từng phòng ban làm việc theo đúng mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Giải quyết hiệu quả các vấn đề phát sinh đối với từng nhân viên; sử dụng hiệu quả nguồn lực nội bộ về con ngƣời, tận dụng những nhân tài để họ phát huy tốt nhất khả năng của mình, từ đó hoàn thành các mục tiêu, yêu cầu đề ra một cách tốt nhất và tiết kiệm thời gian nhất.
Trong công trình nghiên cứu này thì Quản trị nguồn nhân lực có thể được chia theo ba nhóm chức năng chủ yếu: Nhóm chức năng nhằm mục tiêu thu hút nguồn nhân lực: Yếu tố quang trọng nhất trong nhóm chức năng này là cần có đủ số lƣợng lao động và cũng là vấn đề chủ yếu trong nhóm chức năng này, tập trung vào các phẩm chất phù hợp và tạo hiệu quả cho công việc của tổ chức. Căn cứ vào yêu cầu, nhu cầu, vị trí thực thi nhiệm vụ và thực trạng sử dụng ngƣời lao động để tổ chức có thể tuyển dụng đƣợc đúng ngƣời, đúng việc đáp ứng đƣợc nhiệm vụ. Ƣu tiên nội dung đầu tiên là rà soát chỉ tiêu và số lƣợng nhằm xác định đƣợc những vị trí việc làm cần tuyển. Tổ chức lập kế hoạch phân tích vị trí công việc một cách chính xác, phù hợp để khẳn định tổ chức cần tuyển bao nhiên vị trí và đặt ra các điều kiện, tiêu chuẩn phù hợp.
Nhóm chức năng tuyển dụng thƣờng phải thực hiện các hoạt động trƣớc khi triển khai nhƣ: Rà soát, dự kiến và hoạch định nguồn nhân lực, phân tích yêu cầu công việc, thu 13 thập, phỏng vấn, trắc nghiệm, lƣu giữ và xử lý các thông tin về nguồn nhân lực của tổ chức. Việc áp dụng các kỹ năng tuyển dụng (trắc nghiệm, phỏng vấn.) sẽ giúp tổ chức tuyển chọn đƣợc những ứng viên tốt nhất đáp ứng cho công việc đạt hiệu quả.